Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS của phụ nữ dân tộc Mông huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên)

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999. Cả nước có 54 dân tộc. Dân tộc Mông có khoảng 56 vạn người, đứng hàng thứ 8 về dân số. Người Mông sống rải rác ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng.... Người Mông ở Đồng Hỷ (Thái Nguyên) là những người Mông nghèo ở Cao Bằng mới di cư đến từ những năm cuối 1970; phong tục tập quán còn lạc hậu ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng. Để đánh giá thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về sức khoẻ sinh sản của phụ nữ Mông ở Đồng Hỷ chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về sức khoẻ sinh sản (SKSS) của phụ nữ Mông ở các bản vùng cao huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.

1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
 
Đối tượng: Phụ nữ dân tộc Mông 15 - 49 tuổi có chồng, có con dưới 5 tuổi.

Địa điểm: Các bản vùng cao hoàn toàn người Mông của 2 xã Tân Long và Văn Lăng của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang trong dịch tễ học mô tả để nghiên cứu.

* Phương pháp chọn mẫu: Chọn xã là chọn chủ đích. Chọn các bản vùng cao cũng chủ đích, các bản này phải là những bản chủ yếu là người Mông sinh sống. Chọn tất cả hộ gia đình người Mông trong bản có phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng, có con dưới 5 tuổi.

* Chỉ tiêu nghiên cứu: Về kinh tế, văn hoá; về chăm sóc trước, trong và sau sinh; về thực hiện chương trình DS - KHHGĐ. Chỉ số đánh giá mức độ kiến thức, thái độ và thực hành về SKSS bao gồm 3 mức độ tốt, trung bình, kém.

Phỏng vấn trực tiếp với đối tượng điều tra (phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng) tại các hộ gia đình, và ghi chép vào phiếu in sẵn.

* Thời gian điều tra: 6/2003

2. Kết quả nghiên cứu
 
Nghiên cứu 139 phụ nữ Mông ở 139 hộ gia đình của họ về sức khoẻ sinh sản thu được các kết quả sau:

Bảng 1. Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của các hộ gia đình Mông

Thực trạng kinh tế, văn hoá, xã hội của các hộ gia đình Mông rất khó khăn. Tỷ lệ đói nghèo cao, tỷ lệ hộ ở nhà tạm cao, tỷ lệ có phương tiện truyền thông thấp. Đây là yếu tố khó khăn cho việc thực hiện các chương trình y tế nói chung, sức khoẻ sinh sản nói chung ở khu vực người Mông này.

Bảng 2. Một số thông tin chung về các hộ gia đình và bà mẹ người Mông ở các điểu điều tra

Phụ nữ Mông điều tra chủ yếu ở lứa tuổi 24 - 34 (48,2%). Lứa tuổi này là lứa tuổi sinh đẻ mạnh, nhưng họ có trình độ học vấn thấp, chủ yếu là mù chữ, biết đọc biết viết (93,53%). Đây sẽ là khó khăn cho chúng ta tiến hành các hoạt động Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ nói chung nhất là sức khoẻ sinh sản.
 
Bảng 3. Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ người Mông

Công tác chăm sóc trước khi sinh cho các bà mẹ Mông chưa tốt: Tỷ lệ các bà mẹ được khám thai, tiêm phòng uốn ván rất thấp (18,71% & 28,78%). Công tác chăm sóc trong sinh cũng chưa được chú ý: Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại nhà rất cao (97,84), trong khi đó chủ yếu các bà mẹ đẻ tại nhà không có cán bộ y tế giúp đỡ (94,96%).

Bảng 4. Tình hình chăm sóc cho trẻ em của người mẹ

Kết quả trên cho chúng ta thấy chương trình nuôi con bằng sữa mẹ ở người Mông tương đối khá, nhưng tiêm chủng mở rộng thì lại quá kém: Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ thấp. Lý do chính là do nghèo, học vấn thấp, tác động của y tế.

Bảng 5. Tình hình thực hiện chương trình DS - KHHGFF ở các điểm điều tra

Tỷ lệ do các cặp vợ chồng người Mông áp dụng BPTT tương đối khá, trong các BPTT chủ yếu vẫn là đặt vòng (48,2%). Đây là một kết quả tốt có lẽ nhóm phụ nữ trong đối tượng nghiên cứu chủ yếu còn trẻ, được truyền thông về DS - KHHGĐ nhiều nên đã đạt kết quả đáng kể.

Bảng 6. Lý do không áp dụng các biện pháp tránh thai

Lý do hàng đầu không áp dụng BPTT là nuôi con nhỏ, sau đó là gia đình phản đối. Trong các lý do này chúng tôi thấy lý do đầu giải quyết dễ vì sau khi nuôi con nhỏ chúng ta vận động số này sẽ thực hiện nhiều. Số gia đình phản đối cần giáo dục tích cực hơn, không phải hành vi của vợ mà cả hành vi của người chồng về DS - KHHGĐ cần phải chuyển.

Bảng 7. Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành (dưới đây viết theo tiếng Anh là KAP) về chăm sóc trước khi sinh của người phụ nữ

 
Kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ Mông trong chăm sóc trước sinh còn rất thấp, mức độ KAP khá thấp (40,29%; 35,85% và 21,58%)
 
Bảng 8. Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành KAP trong sóc trong và sau sinh của người phụ nữ
 

Kiến thức thái độ thực hành của phụ nữ Mông trong chăm sóc trong và sau sinh đều còn rất thấp, mức độ KAP khá thấp (36,69%; 30,26% và 21,58%). Kết quả này tương tự kết quả chăm sóc trước sinh.

Bảng 9. Thực trạng KAP thực hiện DS - KHHGĐ của người phụ nữ

Kiến thức thái độ thực hành của phụ nữ Mông trong chương trình DS - KHHGĐ đều còn rất thấp, mức độ KAP khá thấp (33,81%; 25,18% và 37,41%).
 
3. Kết luận
 
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản của 139 phụ nữ dân tộc Mông tại các hộ gia đình ở 2 xã Văn Lăng và Tân Long huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, rút ra một số kết luận sau:

Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ Mông ở độ tuổi sinh đẻ đối với việc chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và kế hoạch hoá gia đình còn chưa tốt. Kiến thức khá mới đạt từ 33,69% đến 40,29%, "thái độ" khá mới đạt từ 25,18% đến 35,97%; "thực hành" khá mới đạt từ 21,58% đến 37,41%.

Khuyến nghị

1. Cán bộ y tế và dân số cần phối hợp với các ban ngành và tổ chức xã hội ở xã để tăng cường Truyền thống - Giáo dục sức khoẻ và sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ Mông ở các bản vùng cao.

2. Đảng và chính quyền các xã vùng cao cần tăng cường hơn nữa các hoạt động kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ người dân tộc Mông ở các bản vùng cao của xã..

Theo TS Đàm Khải Hoàn và cộng sự
(Tạp chí DS&PT, số 2/2004, Website Tổng cục DS-KHHGĐ)