Hiện trạng công tác chăm sóc người cao tuổi

Có thể nói, trong một thời gian ngắn Việt Nam đã đạt được bước tiến dài trong công tác chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc người cao tuổi (NCT) nói riêng. Tuổi thọ trung bình được nâng cao đồng nghĩa với tỷ lệ người cao tuổi trong dân số ngày càng tăng. Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1979, 1989 và 1999, tỷ lệ người cao tuổi (60+) đang tăng dần từ 7,1% đến 7,2%, 8,2%. Mặt khác, tuổi thọ được nâng lên cũng đồng nghĩa với sức khoẻ của con người được cải thiên, tuổi lao động thực tế được kéo dài hơn. Theo kết quả khảo sát 600 người cao tuổi (60 tuổi trở lên) tại Yên Bái, Sóc Trăng và thành phố Hồ Chí Minh: 59,7% người cao tuổi còn tham gia các hoạt động kinh tế thường xuyên; 26,1% tham gia lao động giúp việc nhà hoặc trông nom các cháu, chỉ có 20,6% trong số các cụ trả lời không phải làm gì và được nghỉ ngơi an dưỡng tuổi già. Điều đáng chú ý là trong số 600 NCT tham gia trả lời phỏng vấn có 6% cho rằng mình bị ốm đau không lao động được. Trong số những người cao tuổi còn tham gia hoạt động kinh tế có 69,9% làm việc để kiếm sống. Tỉ lệ này còn phản ảnh một thực tế số đông người cao tuổi là nông dân hoặc làm việc trong một số ngành nghề không có bảo hiểm và không được hưởng chế độ nên khi già yếu vẫn phải kiếm kế mưu sinh. Mặt khác, khi tuổi càng cao sức khoẻ càng giảm sút, sức lao động giảm, bệnh tật gia tăng, thu nhập thấp điều đó không có gì lạ. Chính vì thế, công tác chăm sóc sức khoẻ và bệnh tật cho người cao tuổi phải trở thành hoạt đông thường xuyên. Nghiên cứu về tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi hiện nay cho thấy một số vấn đề sau:

1. Về tình trạng bệnh tật

Tìm hiểu về những loại bệnh mà người cao tuổi thường mắc cho thấy các chứng bệnh về xương khớp như phong thấp, thấp khớp (31,6%), bệnh tim mạch chiếm 26,9% và bệnh huyết áp 24,3%, bệnh hô hấp chiếm 10,2%. Các bệnh về tim mạch và huyết áp chiếm tỷ lệ khá cao và đây là những căn bệnh có xu h­ướng gia tăng, đặc biệt ở TP HCM có tới 43,1% người cao tuổi mắc bệnh về tim mạch, mắc các bệnh nghề nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ (3,2%). Chiến tranh tuy đã kết thúc gần 30 năm song hậu quả của nó vẫn còn hiện hữu trên cơ thể nhiều Người cao tuổi, 4,4% NCT đang phải th­ường xuyên chịu những đau đớn mỗi khi vết thương cũ tái phát; 2,2% NCT bị nhiễm chất độc màu da cam và không chỉ có NCT mà đến đời con, cháu của họ vẫn đang phải gánh chịu những hậu quả do chất độc da cam.

Kết quả cho thấy, 65,5% NCT điều trị tại bệnh viện. Tìm hiểu về nơi khám và điều trị của NCT ở TP HCM chiếm tỷ lệ cao hơn cả (79,7%), kế đến là Yên Bái (66,8%) và Sóc Trăng (51,0%). Tại Sóc Trăng tỷ lệ NCT khám chữa bệnh ở cơ sở y tế tư­ nhân, cao hơn hai tỉnh còn lại, chiếm 23,8%, ở Yên Bái là 4,5% và TP HCM là 9,4%. Tìm hiểu về lý do vì sao Sóc Trăng có người trả lời khám chữa bệnh tại cơ sở Y tế tư nhân cao hơn so với những tỉnh khác, chúng tôi đã nhận được câu trả lời cho vấn đề trên là ở các vùng nông thôn và miền núi do địa bàn rộng, thường xa các cơ sở y tế như trạm xá và bệnh viện. Ở những vùng này có những người biết về y học thậm chí chỉ cần biết tiêm và biết tác dụng của một vài loại thuốc là họ có thể mở những cửa hàng nhỏ phục vụ bà con xung quanh vì vậy chất lượng của những cơ sở y tế này không cao. Nhưng với một số bệnh thông thường như cảm, tiêu chảy, ... thì những cơ sở y tế tư nhân này lại có những đóng góp quan trọng, chi phí cho việc khám chữa bệnh này rẻ hơn nhiều so với bệnh viện.

Tìm hiểu về tình hình khám chữa bệnh trong 12 tháng qua cho thấy, số NCT phải điều trị bệnh 1 lần trong năm chiếm 17,5%; 2 lần chiếm 14,2%, 3 lần chiếm 7,7%, 4 lần chiếm 5,3%, và điều trị từ 5 lần trở lên chiếm 12,0%. (bảng 4). Điều đáng chú ý là 43,3% NCT không điều trị lần nào.

Trong số NCT được hỏi về số ngày phải điều trị do bệnh tật, tính trung bình mỗi năm là 9,4 ngày, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh có số ngày điều trị trung bình cao nhất 11,08 ngày; Yên Bái thấp nhất 7,72 ngày.

Số NCT điều trị từ 1-5 ngày chiếm 49,2, từ 6 - 10 ngày chiếm 39,5%. ở TP HCM và Yên Bái NCT nằm điều trị dài ngày hơn, trung bình là 11 ngày so với 7 ngày ở Sóc Trăng. NCT có thẻ bảo hiểm y tế và thẻ khám chữa bệnh miễn phí có số ngày điều trị trung bình cao hơn NCT phải tự bỏ tiền, số ngày điều trị trung bình của NCT có thẻ bảo hiểm y tế là 11 ngày, NCT có thẻ khám chữa bệnh miễn phí là 13 ngày trong khi đó số ngày điều của NCT tự bỏ tiền chỉ có 7 ngày. Rõ ràng điều kiện kinh tế có ảnh hư­ởng quyết định đến thời gian và chất lượng dịch vụ y tế mà các cụ nhận được.

4. Người cao tuổi tự đánh giá về tình trạng sức khoẻ

Điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khoẻ của người cao tuổi, 10,8% NCT cho rằng sức khoẻ tốt, 50,2% cho rằng sức khoẻ bình thư­ờng và 39,0% cho rằng sức khoẻ hiện nay yếu.

So sánh tình trạng sức khỏe giữa các nhóm tuổi cho thấy nhóm tuổi từ 60 - 69 tuổi và nhóm tuổi dưới 60 tuổi có tình trạng sức khoẻ còn tốt không có sự chênh lệch nhau nhiều.

5. Công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại các địa phư­ơng

Việc phụng d­ưỡng chăm sóc sức khoẻ cho NCT là nghĩa vụ, trách nhiệm của gia đình và của toàn xã hội. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người cao tuổi hiện nay ch­ưa được quan tâm chăm sóc. Kết quả điều tra cho thấy, 26,2% NCT nhận được sự giúp đỡ th­ường xuyên từ phía xã hội, tỷ lệ không bao giờ nhận được sự giúp đỡ là 43,0%.

Đối tư­ợng thư­ờng xuyên giúp đỡ ng­ười cao tuổi chủ yếu là ng­ười thân trong gia đình, chiếm  82,2%. Nếu giới hạn sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình đơn thuần không phải là hoạt động của xã hội nói chung thì việc các tổ chức xã hội, các cơ quan đoàn thể thực sự chư­a vào cuộc, việc chăm sóc và phát huy trí tuệ tài năng của người cao tuổi vẫn còn bị coi nhẹ. Trong tổng số 600 NCT được hỏi có 33,7% nhận được sự giúp đỡ của Hội người cao tuổi, 29,2% từ bạn bè hàng xóm, 15,7% từ Hội cựu chiến binh, 8,5% từ chính quyền các cấp và 6,5% từ Hội bảo thọ.

Hình thức giúp đỡ hiện nay thường dừng ở mức thăm hỏi động viên là chủ yếu (76,7%), thăm hỏi động viên, chăm sóc khi ốm đau (37,7%), còn giúp đỡ vật chất chiếm tỷ lệ nhỏ (5,8%).

Nhu cầu chăm sóc khi ốm đau bất kỳ ai cũng có nhưng riêng đối với người cao tuổi nhu cầu này có ý nghĩa quan trọng hơn cả. Hiện nay, cuộc sống khi ốm đau của người cao tuổi vẫn chủ yếu dựa vào con cháu giúp đỡ chiếm 69,2%. Tỷ lệ NCT phải tự phục vụ chiếm 24,3%. Việc thuê người giúp việc hay nhờ người khác giúp đỡ chiếm tỷ lệ nhỏ (0,7%).

Đối với nhóm người h­ưu trí, mất sức lao động, phần đông trong nhóm này nhận được sự quan tâm của xã hội. Họ có bảo hiểm y tế, ốm đau được  khám bệnh và điều trị tại các cơ sở y tế, cuộc sống của họ ổn định. Như­ng với người cao tuổi là nạn nhân của chiến tranh hoặc là những nông dân thì cuộc sống vất vả hơn. Chính vì vậy, nhà nước cần quan tâm nhiều hơn đến nhóm xã hội này.

6. Các hoạt động nâng cao sức khoẻ

Nhằm giữ gìn và nâng cao sức khoẻ cho bản thân, người cao tuổi đã áp dụng nhiều biện pháp như­ tập thể dục buổi sáng, tập dưỡng sinh tại các câu lạc bộ dành cho người cao tuổi. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy 60,2% NCT tự tập tại nhà. Trong khi đó, việc tham gia các câu lạc bộ dưỡng sinh còn nhiều hạn chế với tỷ lệ 16,2%. Nh­ư vậy, việc tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng người cao tuổi hoạt động đơn lẻ, tự phát là phổ biến. Việc chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi cần có những biện pháp khoa học ngay cả đối với việc tập thể dục hàng ngày. Nhiều cụ không biết tập thể dục nh­ư thế nào, tập vào lúc nào là tốt cho sức khoẻ. Có cụ do tập thể dục không đúng cách đã ảnh hư­ởng đến sức khoẻ. Thiết nghĩ trong thời gian tới cần xây dựng một hệ thống tổ chức câu lạc bộ dưỡng sinh từ Hội người cao tuổi trung ­ương đến xã, ph­ường, làng, bản, phum, sóc nhằm xây dựng phong trào hoạt động thể dục thể thao, văn hoá nâng cao sức khoẻ cho NCT. Các lớp tập dưỡng sinh, các môn thể thao như­ cầu lông, bóng bàn, đi bộ, cờ t­ướng... cần được tổ chức ở nhiều nơi và có những huấn luyện viên h­ướng dẫn cho NCT tập đúng cách.

Khi tham gia câu lạc bộ, 63,9% NCT cho rằng có sức khoẻ bình thường, 13,4% sức khoẻ tốt. Tình trạng sức khoẻ yếu có tỷ lệ cao (50,0%) ở nhóm NCT không quan tâm đến việc rèn luyện nâng cao sức khoẻ.

Như vậy, chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi là một việc làm cần thiết và thường xuyên. Đây là nhóm đối tượng có nhu cầu khám và điều trị bệnh rất lớn, bởi vậy, cần có cơ chế, chính sách riêng dành cho người cao tuổi. Hiện nay vấn đề này chư­a được quan tâm đúng mức, tình trạng các cụ phải tự bỏ tiền để được khám chữa bệnh là phổ biến (44,0%). Do đó chi phí cho khám chữa bệnh trở thành gánh nặng cho người cao tuổi và gia đình.

Nhiều nhóm đối tượng người cao tuổi chư­a được hưởng chế độ bảo hiểm y tế. Nhóm người cao tuổi cô đơn hiện có 64,7% đang phải tự bỏ tiền để khám chữa bệnh. Đây là nhóm đối tượng có kinh tế rất eo hẹp song lại phải dành những khoản chi lớn cho chăm sóc sức khoẻ. Nhóm đối tượng người có công cũng mới có 11,1% sử dụng thẻ bảo hiểm y tế và 55,6% tự bỏ tiền. Nhóm đối tượng nghỉ chế độ 176 cũng trong tình trạng tương tự. Ngoài ra, nhóm người cao tuổi không thuộc các đối tượng trên hiện có 90,8% là tự bỏ tiền khi đi khám chữa bệnh. Đối tượng người cao tuổi dùng thẻ bảo hiểm y tế cao nhất là nhóm nghỉ hư­u, chiếm 79,9%. Đây thực sự là một vấn đề cần được quan tâm hơn khi số lượng người cao tuổi ngày càng tăng và nhu cầu khám chữa bệnh cho người cao tuổi ngày một lớn. Cần có một cơ chế cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho 100% người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên nhằm giảm những chi phí về y tế cho NCT.

Đánh giá về chất lượng chăm sóc sức khoẻ, 39,0% người cao tuổi cho là tốt, 53,8% cho là trung bình và chỉ có 7,2% cho là kém. Nếu xem xét chất lượng chăm sóc sức khoẻ theo chế độ khám chữa bệnh thì chất lượng khám chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế và thẻ khám bệnh còn thấp. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ theo chế độ bảo hiểm y tế được đánh giá là tốt chiếm 28,9%, thấp hơn mức chung, đánh giá trung bình là 64,8% và kém là 6,3%. Trong khi đó, chất lượng chăm sóc sức khoẻ theo cách tự bỏ tiền, đánh giá tốt chiếm 45,8% trung bình là 45,1% và kém chỉ có 9,1%.

Đây là những vấn đề cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền, một mặt nhanh chóng triển khai chế độ khám và điều trị bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi trên toàn quốc từ 80 tuổi trở lên. Mặt khác, Nhà nước sớm chỉ đạo để hình thành hệ thống khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Trước mắt, giành một tỷ lệ phòng nhất định nằm trong các bệnh viện thuộc hệ thống y tế của Nhà nước từ Trung ương xuống địa phương cho người cao tuổi. Sớm có biện pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế để họ chăm sóc phục vụ người cao tuổi được tốt hơn.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 1/2006), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ