Dân số và lao động nông thôn trước thềm CNH-HĐH

Vậy là, sau gần 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, tiến trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá (CNH-HĐH) nông nghiệp và nông thôn ở nước ta đang gặp những khó khăn nhất định. Trong phạm vi bài viết này, xin giới hạn vấn đề ở lĩnh vực phát triển kinh tế.
 
I. Dân số và lao động nông thôn nước ta hiện nay.

1. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, nông thôn nước ta chiếm 76,3% dân số cả nước và 73,1% tổng nguồn lao động xã hội. Đặc biệt ở khu vực nông thôn, dân số trẻ (dưới 15 tuổi) chiếm khá đông, hơn 1/3 tổng số, và do đó trong một vài năm trước mắt, lao động nông thôn vẫn còn tiếp tục gia tăng.

Về dân số, xét theo các vùng, các tỉnh, tỉ lệ rất khác nhau. Theo cơ cấu 8 vùng, biên độ dao động từ 87,9% (Tây Bắc) đến 48,5% (Đông Nam Bộ); theo các tỉnh, thành phố, biên độ dao động từ 94,4% (Thái Bình) đến 16,4% (Thành phố Hồ Chí Minh). Nếu không kể các thành phố, thì Quảng Ninh có tỉ lệ này thấp nhất (54,2%). Nếu không kể Quảng Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu là 2 tỉnh công nghiệp đặc thù, thì tiếp theo là Lâm Đồng (61,4%).

Về lao động, theo cơ cấu 8 vùng, biên độ dao động từ 85,3% (Bắc Trung Bộ) đến 44,7% (Đông Nam Bộ); theo các tỉnh, thành phố, biên độ dao động từ 93,6% (Thái Bình) đến 15,7% (Thành phố Hồ Chí Minh). Ngoại trừ các thành phố và 2 tỉnh công nghiệp đặc thù nói trên, thì đó là Lâm Đồng (58,7%). So với tổng số lao động nông thôn cả nước, Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là nơi tập trung đông nhất, có 7.464.747 người, chiếm 24,07%; xếp thứ hai là Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có 7.136.327 người chiếm 23%; thứ ba là Bắc Trung Bộ, có 4.294.568 người, chiếm 13,84%; thứ tư là Đông Bắc, có 3.984.891 người, chiếm 12,84%; thứ năm là Đông Nam Bộ, có 2.978.863, chiếm 9,6%; thứ sáu là Duyên hải Nam Trung Bộ, có 2.502.660 người, chiếm 8,06%; xếp thứ bảy là Tây Nguyên, có 1.585.719 người, chiếm 5,11% và đứng cuối cùng là Tây Bắc, có 1.063.922 người chiếm 3,43%.

Bảng 1. Cơ cấu dân số và trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) của lao động nông nghiệp-nông thôn cả nước chia theo vùng. (từ đủ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế thường xuyên)
Đơn vị tính: %
Nguồn: Số liệu thống kê Lao động-Việc làm ở Việt Nam 2002, Nxb Lao động-Xã hội. Hà Nội - 2003, các tr.190,196, 202,208, 214, 220, 226, 232.

Xét về chất lượng (tỉ lệ lao động qua đào tạo), theo cơ cấu 8 vùng, cũng có sự khác nhau khá rõ. ĐBSH đứng đầu với tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 17,7%; các vùng còn lại xếp theo thứ tự (cao-thấp) có sự thay đổi so với cơ cấu số lượng: Đông Nam Bộ đạt 16%, Bắc Trung Bộ đạt 13,75%, Duyên hải Nam Trung Bộ đạt 11,57%, Đông Bắc đạt 8,48%, ĐBSCL đạt 8,36%, Tây Nguyên đạt 6,15% và cuối cùng vẫn là Tây Bắc, đạt 3,94%. Lại nữa, trong số lao động đã qua đào tạo đó thì phần lớn mới ở trình độ thấp (Sơ cấp/chứng chỉ nghề và công nhân kỹ thuật (CNKT) không có bằng (bảng1).

Về vấn đề này, các số liệu được xây dựng ở bảng 2 cũng phản ánh tình hình tương. Kết quả điều tra ở đây cũng cho thấy có quá nửa (57,50%) số lao động có CMKT mới đạt trình độ học nghề từ ngắn hạn (dưới 6 tháng) đến dài hạn (trên 1 năm).

Bảng 2. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn qua điều tra khảo sát.
Nguồn: Đề tài cấp Nhà nước KX05-10. Số liệu điều tra, 3-2003.
 
Tóm lại, có thể nói, trong một vài năm trước mắt, dân số và lao động nông thôn nước ta có xu hướng tiếp tục gia tăng; tỉ lệ lao động qua đào tạo, dù đã có nhiều tiến bộ so với trước, vẫn còn thấp so với yêu cầu, chưa đạt chỉ tiêu 22-25% vào năm 2000 do Đại hội VIII đề ra; việc phân bố dân số và lao động kỹ thuật giữa các vùng chưa hợp lý, đặc biệt ở những vùng kém phát triển, có quá ít những lao động trình độ cao.
 
II. Những khó khăn trước mắt
 
Thấy rõ những khó khăn mà lao động nông thôn sẽ gặp phải khi đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH, Đại hội IX của Đảng đã quyết nghị: Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học.2

Tuy nhiên, CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, từng bước đưa nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu của nước ta trở thành một nền sản xuất công nghiệp hiện đại, trong đó các thiết bị cơ khí và tự động hoá được sử dụng rộng rãi thay cho sức người và công cụ thủ công, thì lao động nông nghiệp-nông thôn sẽ không thể làm việc bằng trình độ hiện có, theo phong cách tiểu nông tự do tuỳ tiện lâu nay. Bởi lẽ, trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, mọi lao động đều phải có trình độ CMKT tương xứng mới làm chủ được các phương tiện sản xuất hiện đại, đồng thời còn đòi hỏi phải có tác phong công nghiệp, ý thức lao động tập thể, làm việc liên tục với nhịp độ khẩn trương nhằm đạt đỉnh cao của 3 mục tiêu sản xuất là năng suất, chất lượng và hiệu quả. Mặt khác, theo dự báo của các nhà khoa học, trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học- công nghệ và sự cạnh tranh quyết liệt của cơ chế thị trường thì trung bình mỗi người, trong cuộc đời lao động, có thể sẽ phải đổi nghề khoảng 4-5 lần. Như vậy, muốn tiếp tục làm việc, đòi hỏi người lao động phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ, cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới một cách liên tục...

Theo số liệu Lao động-việc làm ở Việt Nam công bố năm 2003, mặt bằng dân trí và học vấn của khu vực nông thôn, dù đã tiến bộ hơn trước, nhìn chung vẫn còn rất thấp. Cụ thể là: Lao động nông thôn có tới 4,6% mù chữ (chiếm 93,81% tổng số chưa biết chữ của lao động cả nước), 18,15% chưa tốt nghiệp tiểu học, 34,11% tốt nghiệp tiểu học, 31,31% tốt nghiệp THCS, chỉ có 11,82% tốt nghiệp THPT (bảng 3).

Thực trạng học vấn, dân trí và CMKT đang còn thấp kém đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện chủ trương đưa các tiến bộ khoa học và công nghệ vào quá trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp-nông thôn. Thực trạng này cũng đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho: Nhiều vấn đề trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân chậm được giải quyết.

Bảng 3. Trình độ học vấn của lao động nông thôn cả nước chia theo nông thôn- thành thị 
 
(tính từ đủ 15 tuổi trở lên đang hoạt động kinh tế)
Đơn vị tính: Người
Nguồn: Số liệu thống kê Lao động-Việc làm ở Việt Nam 2002, Sđd, tr. 24 và 30.
Một trong bốn nguy cơ và là nguy cơ đầu tiên mà Nghị quyết Đại hội IX đã ghi rõ: “Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới”.3 Thực tế, nhiều nhà kinh tế cũng đã chứng minh, nếu tính chi phí trên một đơn vị sản phẩm, lao động nông thôn nước ta hiện nay đắt hơn so với lao động động của nhiều nền kinh tế khác, và tình hình này đã: Dẫn đến hai hậu quả lớn đối với nền kinh tế đang trong giai đoạn đẩy mạnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, đó là một môi trường đầu tư kém hấp dẫn và sức cạnh tranh thấp của sản phẩm4. Chất lượng và giá thành sản phẩm phụ thuộc vào trình độ CMKT và tay nghề của người sản xuất, mà trình độ CMKT cũng như kỹ năng tay nghề lại chủ yếu phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học- công nghệ vào quá trình sản xuất, tức là phụ thuộc vào trình độ học vấn của người lao động.

Khi đất nước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế thì những thách thức quan trọng đầu tiên đòi hỏi lao động nông nghiệp-nông thôn phải vượt qua chính là vấn đề khắc phục mọi khó khăn, cố gắng học tập nhằm nâng cao hơn học vấn và CMKT. Bởi lẽ, đây là những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường của mọi nền kinh tế.

Hiện tại, trình độ dân trí, học vấn và CMKT của lao động nông nghiệp-nông thôn còn ở trình độ thấp, cho nên nhìn chung, sức cạnh tranh về năng suất cũng như chất lượng sản phẩm còn bị nhiều hạn chế. Tuy vậy, chúng ta có cơ sở để tin rằng, trong tương lai không xa, lao động nông thôn nước ta sẽ vượt qua được khó khăn thách thức này.

Nông dân nước đang đảm nhiệm vai trò đội quân chủ lực đảm bảo an toàn lương thực quốc gia. Thực tế mấy năm gần đây, nhiều người năng động làm ăn, chủ động học hỏi, đã trở thành những nông dân làm kinh tế giỏi, những chủ trang trại, trở nên giàu có.
Lao động nông thôn với một nguồn nhân lực dồi dào sẵn có, khi được học tập và đào tạo, biết kết hợp giữa sử dụng đất với bảo vệ tài nguyên-môi trường, giữa sử dụng phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, thức ăn gia súc với vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khoẻ con người..., thì chắc hẳn các sản phẩm làm ra sẽ không chỉ ngày càng nhiều về số lượng, mà còn có chất lượng, đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực và quốc tế.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 7/2004), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ