Bùng nổ dân số ở thế giới chậm phát triển áp lực di cư sẽ tăng

Thật ngạc nhiên, trong 100 năm qua dân số thế giới đã tăng gấp gần 4 lần - từ 1,6 tỷ lên 6,1 tỷ người, phần lớn là tăng trong 50 năm vừa qua. Ngoài ra, thế kỷ 20 đã có những biến đổi lớn về tuổi thọ, mức sinh, già hoá dân số và di cư  quy mô lớn.

Tương lai của thế kỷ 21 là gì? Các nhà dân số học đã đưa ra một hình ảnh phức tạp với nhiều xu hướng trái ngược. Trong các xu hướng chủ yếu được Liên hợp quốc dự báo, một xu hướng có tính chất nhạy cảm về chính trị hơn nhiều đó là dân số sẽ tăng nhanh nhất ở các nước nghèo, dẫn đến thúc đẩy di cư mạnh mẽ đến các nước đã phát triển. Triển vọng dân số đô thị trên thế giới sẽ tăng nhanh cũng chứa đựng những hậu quả nặng nề.

Mặc dù các chuyên gia tranh luận về những con số chính xác, một xu thế mà tất cả các chuyên gia dự báo đều thống nhất là dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng lên trong thế kỷ 21. Ít nhất là 2 tỷ người, và có thể là gần 3 tỷ người sẽ bổ sung thêm vào dân số thế giới trong vòng 5 thập kỷ sắp tới. Dân số dự báo tăng thêm này sẽ làm cho tổng dân số  thế giới đạt 9 tỷ người vào năm 2050. Đây cũng là số tăng thêm cao thứ hai trong nửa thế kỷ đã ghi được lịch sử nhân loại, chỉ đứng sau con số 3,5 tỷ trong thời kỳ 1950 và 2000.

Tuy nhiên tốc độ tăng dân số thế giới sẽ chậm dần. Về mức tăng tuyệt đối, dân số thế giới tăng đã đạt mức đỉnh cao 87 triệu người/năm vào cuối những năm 1980. Hiện nay mức tăng dân số hàng năm là khoảng 77 triệu người. Vào giữa thế kỷ này, dân số sẽ tăng ở mức 29 triệu người/năm. Lý do cơ bản của sự tăng chậm dần là tỷ lệ sinh giảm, đặc biệt tại các khu vực chậm phát triển trên thế giới. Tuy nhiên dân số thế giới sẽ tập trung nhiều hơn ở các nước chậm phát triển. Vào năm 2050, khoảng 90 phần trăm dân số thế giới sẽ sống trong các quốc gia chậm phát triển so với 80 phần trăm hiện nay. Đây là do thực tế hầu hết dân số thế giới tăng thêm trong tương lai sẽ diễn ra ở các khu vực kém phát triển. Hiện nay, sáu nước chiếm một nửa con số 77 triệu người - mức tăng dân số hàng năm của thế giới - là: Ấn Độ, Trung Quốc, Pakixtan, Nigiêria, Bănglađét và Inđônêxia. Chỉ riêng Ấn Độ đã chiếm khoảng một phần năm số tăng thêm hàng năm của tổng số dân thế giới.

Do có sự chênh lệch đáng kể về tỷ suất tăng dân số giữa các nước và các khu vực, nên sự phân bố lại dân số của thế giới đang diễn ra sâu sắc. Sự phân bố lại dân số này dẫn đến một trật tự dân số quốc tế mới. Chẳng hạn ta hãy xem trường hợp của châu Âu. Năm 1950, dân số châu Âu chiếm khoảng 22% dân số thế giới; ngày nay dân số châu Âu chỉ chiếm khoảng một nửa mức đó, khoảng 12%; và đến năm 2050, dân số của châu Âu sẽ chiếm khoảng 7% dân số thế giới. Một ví dụ khác là sự so sánh dân số giữa Pakixtan và Liên bang Nga. Năm 1950, dân số của Liên bang Nga gấp hơn hai lần dân số của Pakixtan (103 triệu so với 43 triệu); ngày nay hai nước này có quy mô dân số gần bằng nhau, Liên bang Nga là 143 triệu và Pakixtan là 157 triệu. Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ này, dân số của Pakistan dự tính sẽ gấp 3 lần dân số của Liên bang Nga (349 triệu so với 101 triệu).

Các nhà nhân khẩu học khẳng định hệ quả tất yếu của tăng dân số trong các khu vực chậm phát triển sẽ làm tăng di cư. Vào đầu thế kỷ 20, có khoảng 33 triệu người sống ở ngoài nước nơi mình sinh ra. Ngày nay, con số này ước tính lên tới 175 triệu, với khoảng 60% tập trung ở châu Âu và Bắc Mỹ. Các luồng di cư quốc tế sẽ còn duy trì ở mức cao trong thế kỷ 21. Các khu vực phát triển sẽ tiếp tục là nơi nhận di cư quốc tế, với mức trung bình tối thiểu 2 triệu người/năm trong nửa thế kỷ tới. Chiếm phần lớn trong số những người di cư sang châu Âu là từ châu Phi và châu Á; ở Bắc Mỹ, phần lớn là những người đến từ Trung và Nam Mỹ.

Tỷ lệ sinh cũng sẽ hạ thấp hơn trong thế kỷ 21, đặc biệt trong các khu vực chậm phát triển. Trong những năm 1950, phụ nữ ở các khu vực chậm phát triển trung bình có 6 con, thì hiện nay có khoảng 3 con. Vào giữa thế kỷ, dự báo mức sinh bình quân toàn cầu  sẽ đạt gần với mức sinh thay thế, khoảng 2 con một cặp vợ chồng.

Tác động của đại dịch HIV/AIDS cũng sẽ xấu hơn. Ít nhất là trong một vài thập kỷ tới, đại dịch này sẽ làm tăng bệnh tật, tử vong, và giảm dân số trong các nước hiện bị ảnh hưởng nhiều nhất. Mặc dù trong tương lai khả năng lây nhiễm HIV sẽ giảm đáng kể, nhưng ảnh hưởng lâu dài của đại dịch vẫn rất thảm khốc.

Mới chỉ vài năm bước vào thiên niên kỷ mới, hầu hết số tăng thêm của dân số thế giới xảy ra ở các đô thị của các khu vực chậm phát triển. Trong một vài năm tới, phần lớn dân số thế giới sẽ không còn là những người dân nông thôn nữa, mà họ sống ở các thành phố. Trong vòng 3 thập kỷ tới, quy mô dân số ở các khu vực thành thị của các khu vực chậm phát triển sẽ gấp đôi, tăng từ 2 tỷ hiện nay lên 4 tỷ vào năm 2030. Phần lớn di cư nông thôn-thành thị là đến những thành phố lớn nhất của các nước chậm phát triển, làm tăng nhu cầu về việc làm và dịch vụ xã hội, nhất là các hệ thống chăm sóc sức y tế công cộng.

Cùng với di cư lớn và tăng dân số, dân số thế giới cũng sẽ già nhanh hơn và tuổi thọ sẽ cao hơn. Y học hiện đại, những thay đổi về lối sống, dinh dưỡng được cải thiện sẽ hạ thấp tỷ suất chết và tăng tuổi thọ. Tuổi thọ toàn cầu vào giữa thế kỷ này dự báo sẽ vào khoảng 75 tuổi, cao hơn mức hiện nay 10 năm. Phần trăm dân số 65 tuổi trở lên sẽ gấp đôi trong vòng 5 thập kỷ, tăng từ 7% lên 16%.

Ngoài ra, già hoá dân số làm nảy sinh những vấn đề nghiêm trọng về khả năng tài chính đối với lương hưu và các hệ thống chăm sóc người già. Số lượng người lao động giảm tương đối so với những người trong độ tuổi nghỉ hưu, nhiều người dự đoán sẽ dẫn đến  một "xã hội mực đỏ" (xã hội thâm hụt về tài chính N.D.). Ngày nay, ngân sách giành cho an sinh xã hội, lương hưu và chăm sóc sức khoẻ đang trong tình trạng xấu, phần lớn là do sự phát triển của dân số trong thời gian qua. Tuy nhiên, với những sự thay đổi về nhân khẩu học, có nhiều lo ngại không chỉ là sự đến sớm của "xã hội mực đỏ" mà còn là tình trạng này mở rộng không lường trước được.

Ngăn ngừa xu thế này là một thách thức quan trọng về kinh tế kinh tế đối với chính phủ các nước phát triển và đang phát triển. Những biện pháp có thể bao gồm tăng tuổi nghỉ hưu, giảm phúc lợi tuổi già và phạm vi chăm sóc sức khoẻ, và tăng các mức thuế. Tuy nhiên, quan chức được bầu và công chúng ưa thích chưa nhất trí với các biện pháp này. Tất nhiên, một số tin rằng chẳng cần có biện pháp nào và theo thời gian sự thâm hụt tài chính sẽ qua đi...
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 9/2004), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ