Biến động gia tăng dân số thực trạng và những vấn đề đặt ra

Tuy nhiên, hiện chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức mới cần được tháo gỡ kịp thời. Đó là tỷ lệ sinh trong vòng 2 năm trở lại đây có xu hướng tăng mạnh trên phạm vi cả nước. Những người quan tâm đến dân số và công tác dân số ở nước ta hết sức lo ngại trước vấn đề trên. Số liệu thống kê cho thấy năm 2004, quy mô dân số Việt Nam đã đạt khoảng 82,5 triệu người, 38/64 tỉnh, thành phố trong cả nước có tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng "bất thường". Năm 2004, thành phố Hà nội có 2.234 trẻ em ra đời là con thứ 3, tăng so với năm 2003 là 0,38%, trong đó có 57 cặp vợ chồng là cán bộ công chức sinh con thứ 3. Thành phố Hồ chí Minh có 5.600 trẻ em ra đời là con thứ 3 tăng so với năm 2003 là 0,4% trong đó có 14 cặp vợ chồng là đảng viên sinh con thứ 3[1]. Đáng lưu tâm là hầu hết các gia đình sinh con thứ 3 đều thuộc nhóm kinh tế khá giả và trình độ học vấn tương đối cao. Vì vậy, nhận diện đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm kìm hãm và kiểm soát tốc độ gia tăng dân số là việc làm cấp bách hiện nay ở nước ta.

Thực tiễn cho thấy Việt Nam hiện nay không chỉ đứng trước nguy cơ bùng nổ dân số trở lại, mà đang còn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao chất lượng dân số như: sự khác biệt về dân số giữa các vùng, chăm sóc sức khoẻ sinh sản phụ nữ, giải quyết đói nghèo và việc làm, hiện tượng tảo hôn ở các đồng bào dân tộc, phòng chống HIV… , đại dịch HIV/AIDS có nguy cơ bùng phát ở Việt Nam. ước tính mỗi ngày có khoảng 45 người bị lây nhiễm mới, trong đó phụ nữ mang thai và trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS có xu hướng gia tăng. Theo số liệu thống kê, mỗi năm Việt nam có khoảng 300.000 phụ nữ dưới 20 tuổi sinh con, mang thai và nạo thai ở vị thành niên, đa số vị thành niên chưa được giáo dục, cung cấp kiến thức cơ bản về sức khoẻ sinh sản.

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu đánh giá việc thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010 giai đoạn I (2001 - 2005), do nhóm nghiên cứu, Học viện CTQG Hồ Chí Minh tiến hành cuối năm 2004 tại 8 tỉnh thành trong cả nước, chúng tôi nhận thấy tại một số tỉnh thành như Lai Châu, Gia Lai, Quảng Nam, Hà Tĩnh... việc thực hiện các mục tiêu về dân số và sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình vẫn còn bộc lộ một số bất cập. Sự thiếu bền vững trong kết quả giảm sinh, nguy cơ bùng nổ dân số vẫn còn tiềm ẩn trong nhiều nhóm xã hội. Đặc biệt là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên so với năm 2003 tăng lên 1,15% và việc thực hiện mục tiêu giảm mức sinh con thứ 3 trở lên vào năm 2005 của tỉnh là không thể thực hiện được (số liệu báo cáo của Uỷ ban DSGĐTE Quảng Nam). ở Hà Tĩnh vấn đề này cũng đang rất bức xúc và đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể cần có sự quan tâm kịp thời. Theo Báo cáo của Uỷ ban DSGĐTE tỉnh Hà Tĩnh, mặc dù mức sinh có giảm song tốc độ giảm rất chậm và không bền vững. Chỉ tiêu giảm tỷ lệ sinh không thực hiện được, chỉ đạt 30% so với kế hoạch và hiện nay tỷ lệ này đang ở mức cao so với trung bình của cả nước (27,5%/15% cả nước). Đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, vùng công giáo thì vấn đề này càng đáng lo ngại hơn. Số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị viêm nhiễm các bệnh phụ khoa ảnh hưởng tới việc áp dụng các biện pháp tránh thai còn chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt ở vùng nông thôn và miền núi (Gia Lai, Lai Châu). Ngoài ra một số phong tục tập quán lạc hậu, tư tưởng định kiến giới, trọng nam khinh nữ, quan niệm "mỗi con mỗi lộc"... cũng đang tác động tiêu cực tới hành vi sinh đẻ trong một bộ phận nhân dân. Đây chính là một trong những yếu tố tác động tới quá trình thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ sinh cũng như từng bước nâng cao chất lượng dân số mà Chiến lược đã đề ra.

Thực trạng chất lượng dân số và gia tăng dân số trở lại, đặc biệt là hiện tượng sinh con thứ 3 tăng đột biến cần phải được kiểm soát và ngăn chặn kịp thời. Nếu không đó sẽ là hệ luỵ cho các vấn đề kinh tế - xã hội khác như đói nghèo; bệnh tật; thất học ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực và sẽ cản trở quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước... Vậy nguyên nhân của hiện tượng này là bắt nguồn từ đâu? Có thể nói có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng biến động tăng dân số, nhưng bài viết này chỉ tập trung phân tích ở 2 nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:

Trước hết, nhóm nguyên nhân thuộc về nhận thức: Do nhận thức của một bộ phận nhân dân và cán bộ lãnh đạo, công chức nhà nước về vấn đề dân số kế hoạch hoá gia đình còn hạn chế, một bộ phận đáng kể trong nhân dân hiểu sai lệch một số điều quy định trong Pháp lệnh Dân số ban hành năm 2003 như khoản 1 điều 10:  Mỗi cặp vợ chồng và cá nhân có quyền quyết định về số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh sao cho phù hợp với quy mô gia đình ít con... Do vậy, dù muốn hay không chúng ta cũng phải thừa nhận việc chậm ra Nghị định 104 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Dân số đã gây ra những khó khăn cho các địa phương trong công tác chỉ đạo thực hiện duy trì xu thế giảm sinh mà chúng ta đã đạt được những năm trước đó. Số liệu điều tra định lượng tại 8 tỉnh thành cho thấy có tới 62,6% số ý kiến cho rằng một bộ phận nhân dân chưa hiểu đầy đủ về Pháp lệnh Dân số và 39,4% ý kiến nhận định rằng người dân còn hiểu sai lệch về Pháp lệnh Dân số.

Bên cạnh đó việc một số cơ quan làm công tác tuyên truyền vận động thực hiện chính sách giảm sinh, nhất là ở cấp cơ sở đã bộc lộ tư tưởng chủ quan, thoả mãn với những thành tích đã đạt được trong công tác dân số trước năm 2003.

Thứ hai, nhóm nguyên nhân thuộc về tổ chức và đầu tư cho hoạt động của công tác dân số kế hoạch hoá gia đình và trẻ em. Tổ chức bộ máy làm công tác dân số có sự biến động, vừa mang tính thụ động, vừa bị quá tải. Vấn đề đầu tư cho công tác dân số cả nước giảm (từ 245 tỷ đồng năm 2000 xuống còn 200 tỷ đồng năm 2003, 2004). Số liệu điều tra cho thấy có tỉnh ngân sách Trung ương chuyển về cho hoạt động Dân số nhưng lại sử dụng không đúng mục đích, chuyển sang sử dụng cho lĩnh vực khác (trường hợp ở Yên Bái, Báo cáo của Uỷ ban DSGĐTE tỉnh Yên Bái).

Đặc biệt là lực lượng cộng tác viên dân số ở cơ sở, những người mà trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn đi từng ngõ, gõ từng nhà, và từng đối tượng để tuyên truyền vận động nhân dân, nhưng chế độ phụ cấp hết sức khiêm tốn chỉ 25.000 đồng/tháng (tỉnh Phú yên, báo cáo của Uỷ ban DSGĐTE tỉnh Phú Yên), chưa nói đến việc họ phải kiêm nhiệm thêm cả công tác gia đình và trẻ em (tăng gấp 3). Ngay cả cán bộ chuyên trách công tác dân số ở cơ sở cũng phải kiêm nhiệm thêm công việc, nhưng lương cũng bị giảm sau khi sát nhập (năm 2003 là 350.000 đồng/người/tháng, sau khi sáp nhập năm 2004 là 210.000 đồng/người/tháng. Một số địa phương có hiện tượng buông lỏng sự lãnh đạo, quản lý. Để kịp thời khắc phục tình trạng trên cần phải thực thi hữu hiệu đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó phải kể tới những giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương. Quán triệt công tác dân số phải là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động lãnh đạo, quản lí các cấp.

Thứ hai, củng cố lại tổ chức bộ máy làm công tác dân số - kế hoạch  hoá gia đình. Cần thiết phải tiến hành tập huấn lại đội ngũ cán bộ các cấp về mục tiêu, chương trình, kế hoạch công tác dân số, đặc biệt là đội ngũ cộng tác viên dân số ở cơ sở. Nghiên cứu sắp xếp lại một cách hợp lí  biên chế tổ chức các cơ quan làm công tác dân số. Điều chỉnh chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ chuyên trách dân số, cộng tác viên dân số. Cần có sự ưu tiên đối với cộng tác viên dân số ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc.

Thứ ba, tăng cường mạnh mẽ chiến dịch truyền thông, vận động và cung cấp các dịch vụ dân số - kế hoạch hoá gia đình ở các tỉnh, thành phố  đông dân, có mức sinh cao. Chú trọng quan tâm tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhanh chóng, thuận lợi, an toàn nhất với các dịch vụ kế họạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và trẻ em. Đồng thời tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội trong việc nâng cao nhận thức của người dân nhằm thực hiện tốt việc giảm tỷ lệ sinh con thứ ba, đặc biệt là đối với Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân.

Thứ tư, Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai công tác truyền thông, tư vấn kế hoạch hoá gia đình có trọng điểm, hướng sự tập trung về cơ sở với chủ đề chính của năm 2005 là: chăm sóc sức khoẻ phụ nữ, phòng chống bệnh phụ khoa và phòng chống HIV ở phụ nữ mang thai (chủ đề năm Dân số Việt Nam 2005).

Thứ năm, các địa phương, cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch biện pháp xử lý thật kiên quyết đối với những người sinh con thứ 3, nhất là cán bộ, công chức và đảng viên. Cần đưa việc sinh con thứ 3 thành tiêu chí cơ bản trong xem xét, đánh giá tư cách đảng viên, tiêu chuẩn bình xét tổ chức đảng và cấp uỷ trong sạch vững mạnh.

Thứ sáu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên xem xét và điều chỉnh lại nội dung và cách trình bày một số điều, khoản trong Pháp lệnh Dân số 2003 để tạo sự thống nhất nhận thức trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là khoản 1 điều 10.

Thứ bảy, dân số tăng đột biến sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ tiềm ẩn khó lường cho việc thực hiện các mục tiêu của Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010. Vậy nên trong thời gian tới Trung ương Đảng cần có một chỉ thị hoặc nghị quyết về tăng cường công tác Dân số trong thời kỳ mới. Điều này phù hợp với kiến nghị của cán bộ lãnh đạo quản lý ở nhiều địa phương.

Bối cảnh công tác dân số nước ta hiện nay cho thấy mục tiêu chương trình dân số đến 2005 (Bình quân mỗi cặp vợ chồng có 2,1 con và đạt tỷ lệ tăng dân số từ 1,16 đến 1,22%) chưa đạt được. Đã đến lúc chúng ta phải chú ý hơn nữa tính hiệu quả của Chương trình quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình. Chủ tịch nước Trần Đức Lương trong buổi làm việc với Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 23/12/2004 đã khẳng định: Cần coi trọng hơn nữa cuộc vận động thực hiên Chương trình quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình. Nếu tốc độ tăng dân số cao, không kiểm soát được KHHGĐ, thực hiện chương trình quốc gia dân số không tốt, không theo mục tiêu từng hoạch định sẽ phá vỡ quyết tâm lớn của chúng ta và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Điều đó càng khẳng định Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến công tác dân số kế hoạch hoá gia đình. Mọi cấp, mọi ngành, mọi người dân cần có nhận thức đúng đắn về vấn đề dân số và công tác dân số, để có được chủ trương biện pháp thống nhất và hành động thích hợp góp phần kìm hãm và kiểm soát tốc độ gia tăng dân số hiện nay.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 1/2005), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ