Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Hàn Quốc
Đây có thể là một nhân tố đóng góp vào tỷ số giới tính khi sinh cao một cách bất thường, đặc biệt từ lần sinh thứ 3 trở lên, (Cho và cộng sự, 1994). Tổng tỷ suất sinh năm 1995 là 1,7. Kể từ khi mỗi cặp vợ chồng mong muốn có ít nhất hơn một con trai, tỷ số giới tính của lần sinh đầu không chênh nhiều so với mức chuẩn là 105, nhưng bắt đầu từ lần sinh thứ hai, tỷ số này chênh nhiều so với mức chuẩn và càng có nhiều cặp vợ chồng quyết định nạo thai, do “không muốn sinh con” hoặc “không thích giới tính của bào thai”.
Trong biểu 1, tỷ số giới tính khi sinh ở Hàn Quốc vẫn bình thường cho tới năm 1982, sau đó bị thay đổi cho tới năm 1998. Sự mất cân bằng giới tính khi sinh được cải thiện từng năm, từ mức cao nhất 115,3 năm 1993 xuống 109,6 năm 1998. Điều này không chỉ do suy giảm sự ưa thích con trai mà còn do việc thực thi nghiêm ngặt Luật y học, một nỗ lực của chính phủ nhằm ngăn chặn nạo thai lựa chọn giới tính. Tháng 10/1996, chính phủ Hàn Quốc đã sửa Luật Y học, theo đó những bác sỹ tiến hành nạo thai lựa chọn giới tính sẽ bị tịch thu giấy phép hành nghề và phạt tới 10,000 Won (tương đương 8,400 USD) hoặc bị tù tới 3 năm, Đến nay đã có khoảng 10 bác sỹ bị xét xử do thực hiện nạo thai lựa chọn giới tính.
Ngoài ra, có một phong trào xã hội tự kiểm soát các nhân viên y tế về các dịch vụ y học phi đạo đức như xác định giới tính thai nhi. Các tổ chức phi chính phủ cũng tiến hành các chiến dịch về ảnh hưởng tiêu cực của sự mất cân bằng giới tính và cải thiện vị thế xã hội của phụ nữ.
Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhẹ từ 108,2 năm 1997 lên 110 năm 1998, có thể là do vào năm hoàng đạo, chủ yếu là năm Con Hổ, khi các cặp vợ chồng có xu hướng tránh sinh con gái do tín ngưỡng văn hoá, vì thế họ lùi việc đăng ký sinh cho con gái vào năm sau.
Biểu 1. Thay đổi tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh, 1980-2007
Nguồn: Cục Thống kê Quốc gia, Báo cáo thống kê 2005, 2007.
Các hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông cần được tăng cường liên tục qua nhiều phương tiện truyền thông đại chúng để người dân hiểu rằng nếu tỷ số giới tính khi sinh bị mất cân bằng nghiêm trọng, chính người dân và con cái họ sẽ gánh chịu những hậu quả và tác động về văn hoá và xã hội. Hiện đã có những cải thiện trong hệ thống xã hội và chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy vị thế phụ nữ.
Biểu 2 cho thấy tỷ lệ phụ nữ có chồng cho rằng “có con trai là cần thiết” giảm từ 47,7% năm 1985 xuống 26,3% năm 1994, và 14,1% năm 2003.
Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ có chồng trả lời “có con trai thì tốt hơn” tăng từ 18,7% năm 1985 lên 41,8% năm 2003. Kết quả là tỷ lệ phụ nữ muốn có con trai duy trì ở mức 55%. Điều này cho thấy tuy mức độ ưa thích con trai đã giảm nhưng việc thích con trai vẫn phổ biến trong xã hội Hàn Quốc.
Biểu 2. Mức độ thích con trai ở phụ nữ hiện đang có chồng, 1985-2003
Nguồn: Viện Nghiên cứu Sức khoẻ và Phúc lợi Xã hội Hàn Quốc, Báo cáo Điều tra mức sinh và sức khoẻ gia đình, 1991-2000.
Mô hình tuổi ưa thích con trai từ cuộc điều tra 1987 cho thấy ưa thích con trai sẽ giảm dần trong tương lai, tỷ lệ những người “không thích con trai” là 31,1% ở nhóm tuổi 40 – 44 tăng lên 38,6% ở nhóm tuổi 35 – 39, 40,6% ở nhóm tuổi 30 - 34, và 46,4% ở nhóm tuổi 25 – 29. Chỉ báo về sự suy giảm thích con trai có thể thấy được qua sự gia tăng về trình độ học vấn của phụ nữ và đô thị hoá tại Hàn Quốc (Lee, 1989).
Trong biểu 3, lý do thích con trai đã thay đổi từ các lý do truyền thống và kinh tế sang các các lý do về tâm lý. Năm 1985, đối với những phụ nữ đang có chồng thích con trai, thì “nối dõi dòng họ” là lý do quan trọng nhất, chiếm 37,3%; tiếp đến là “để trông cậy khi già” (26,1%); “thoả mãn tâm lý” (20,3%); và “hạnh phúc và hài hoà của gia đình” (15,6%), (Lee, 1989). Tuy nhiên, đến năm 2005, “thoả mãn tâm lý” là lý do quan trọng nhất (72,9%), tiếp đến là “hạnh phúc và hài hoà của gia đình” (56,6%), trong khi “để trông cậy khi già” chỉ chiếm 5,3% (Kim, 2003).
Biểu 3, Lý do thích con trai của phụ nữ hiện đang có chồng, 1985 - 2003
%
Nguồn: Viện Nghiên cứu Sức khoẻ và Phúc lợi Xã hội Hàn Quốc, Báo cáo Điều tra mức sinh và sức khoẻ gia, 1997-2000.
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 5/2009), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ