Chăm sóc SKSS vị thành niên và TNVN: Mức độ đáp ứng của nhà nước và các bước tiếp theo

Họ đang sống trong một xã hội với rất nhiều cơ hội phát triển đi kèm với những thách thức cần phải vượt qua. Họ được tiếp nhận thành quả của khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại; cơ chế mở cửa hội nhập; nền kinh tế thị trường năng động, hiệu quả… song phải đối mặt với với những thay đổi về giá trị, văn hóa, lối sống và những nguy cơ liên quan đến SKSS*. Chăm sóc SKSS cho vị thành niên và thanh niên (VTN&TN) chính là tạo môi trường toàn diện cho sự phát triển cả về mặt thể chất, trí tuệ và tinh thần của thế hệ trẻ. Bài viết này hệ thống lại những đáp ứng của nhà nước, chính phủ trong công tác chăm sóc SKSS cho VTN&TN thời gian qua và khuyến nghị các bước tiếp theo nhằm thực hiện các can thiệp đáp ứng các nhu cầu về SKSS của VTN&TN.
 
I. MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CHĂM SÓC SKSS CHO VTN&TN
 
1.1. Môi trường pháp lý cho thực hiện các can thiệp
 
Cho đến nay, có thể nói, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản chính sách thuận lợi cho việc triển khai các can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu SKSS VTN. Tuy không có một văn bản Chiến lược quốc gia, song SKSS VTN đã được đề cập trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất (luật, pháp lệnh, chiến lược) về chăm sóc SKSS hoặc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho VTN&TN.
 
Tháng 11 năm 2005, Luật thanh niên đã được Quốc hội thông qua. Nó đã đánh một dấu mốc quan trọng cho việc hoàn thiện các quyền của thanh niên. Đây là văn bản chính thức giúp hoàn thiện môi trường pháp lý cho các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam. Trong luật này, quyền và nghĩa vụ của thanh niên (16-30 tuổi) trong bảo vệ sức khỏe đã được quy định tại Điều 14: “Thanh niên có quyền và nghĩa vụ được bảo vệ, chăm sóc, hướng dẫn nâng cao sức khỏe, kỹ năng sống lành mạnh, phòng ngừa bệnh tật”. Liên quan đến SKSS VTN, Điều 21 đã quy định: “Nhà nước có chính sách đầu tư, khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng các cơ sở y tế, cơ sở hoạt động thể dục, thể thao; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thanh niên, tổ chức tư vấn cho thanh niên về dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống, phòng chống ma túy, HIV/AIDS, phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và các bệnh xã hội khác”; Điều 22 quy định: “Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn nhân, gia đình, thực hiện kế hoạch hóa gia đình trong thanh niên”.
 
Trước đó, tháng 11 năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010” với hai mục tiêu cụ thể của chiến lược này hướng vào VTN&TN: “Cải thiện tình hình SKSS của VTN&TN thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ SKSS phù hợp với lứa tuổi” và “Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao SKSS và chất lượng cuộc sống”.
 
Tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược dân số giai đoạn 2001-2010” với nhiều giải pháp được đề xuất để thực hiện mục tiêu ổn định quy mô và nâng cao chất lượng dân số. Đó là giải pháp mở rộng các hình thức giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục dân số, SKSS, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường; giải pháp về chăm sóc SKSS và nâng cao dân trí, tăng cường vai trò của gia đình và bình đẳng giới. Tháng 1 năm 2003, Pháp lệnh Dân số cũng đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành.
 
Tháng 3 năm 2004, Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020”. Các giải pháp thực hiện để đạt được mục tiêu chiến lược bao gồm phát huy tính chủ động tham gia của người nhiễm HIV/AIDS và chống phân biệt đối xử; bảo đảm các chính sách bình đẳng về giới, các chính sách đặc thù cho từng nhóm đối tượng, đặc biệt là trẻ em bị ảnh hưởng hoặc bị nhiễm HIV/AIDS; triển khai và nâng cao chất lượng hiệu quả chương trình đào tạo về dự phòng lây nhiễm HIV, giáo dục giới tính, SKSS và kỹ năng sống tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ thông. Tháng 6 năm 2006, Luật phòng, chống nhiễm HIV/AIDS đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt nam thông qua.
 
Hiện nay, nhằm hiện thực hóa Luật thanh niên, một số các kế hoạch tổng thể, chương trình hành động liên quan đến chăm sóc sức khỏe và SKSS cho VTN&TN đã được các Bộ và cơ quan chức năng đưa ra. Tháng 6 năm 2006, Bộ Y tế đã phê duyệt “Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng 2020”. Tháng 4 năm 2007, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra: “Chương trình hành động chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, thanh niên năm 2006-2010”. “Kế hoạch tổng thể giáo dục HIV và sức khỏe sinh sản trong nhà trường” đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo phê duyệt tháng 3 năm 2007.
 
Có thể thấy rằng, một chiến lược chăm sóc SKSS cho VTN&TN bao gồm hệ thống các văn bản pháp lý đề cập đến vấn đề chăm sóc SKSS VTN, các chương trình hành động nêu lên mục tiêu, giải pháp và sự phân định trách nhiệm các tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc thực hiện là một đáp ứng hết sức cơ bản của Nhà nước và Chính phủ đối với các nhu cầu SKSS VTN hiện tại cũng như trong tương lai. Các văn bản pháp lý này thể hiện sự cam kết của Chính phủ trong các hỗ trợ kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cũng như hỗ trợ tài chính.
 
1.2. Cung cấp dịch vụ y tế
 
Dù còn nhiều hạn chế về chất lượng, mức độ thân thiện, bảo mật, các dịch vụ lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị về SKSS và cung cấp các biện pháp tránh thai của hệ thống y tế nhà nước đã đáp ứng phần nào nhu cầu của VTN&TN. Sự cở mở về mặt chính sách của nhà nước (chủ trương xã hội hóa công tác y tế, khuyến khích hành nghề y, dược tư nhân…) đã bước đầu tạo điều kiện cho sự ra đời các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN&TN do các tổ chức phi chính phủ địa phương, các tổ chức cộng đồng hoặc các cá nhân phụ trách. Chính hệ thống dịch vụ này đã bổ sung cho hoạt động của các dịch vụ nhà nước và mở ra hướng đi mới cho việc phát triển đa dạng các hình thức cung ứng dịch vụ linh hoạt, thân thiện cho VTN&TN, thậm chí dành riêng cho những nhóm đối tượng khác nhau như nam, nữ, học sinh, VTN&TN nghiện chích ma túy, VTN&TN nhiễm HIV/AIDS. Trong tương lai, các cơ sở cung cấp dịch vụ SKSS VTN của các tổ chức, cá nhân không thuộc nhà nước sẽ đóng vai trò quan trọng, giúp việc cung cấp dịch vụ SKSS VTN trở nên đa dạng, hiệu quả hơn.
 
Bộ Y tế đã ban hành “Chuẩn quốc gia về dịch vụ SKSS” (2002) và hiện nay đang xây dựng “Hướng dẫn quốc gia về dịch vụ sức khỏe thân thiện dành cho VTN&TN”. Đây là đáp ứng quan trọng tiến tới hoàn thiện về mặt chất lượng, kỹ thuật đối với các dịch vụ SKSS cung cấp cho VTN&TN. Tháng 8 năm 2006, Bộ Y tế ra quyết định (số 23/2006/QĐ-BYT) chuyển đổi các Trung tâm chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW trước đây thành các Trung tâm chăm sóc SKSS, theo đó các trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh/thành phố sẽ có khoa Chăm sóc SKSS vị thành niên và nam học.
 
1.3. Cung cấp thông tin – giáo dục - truyền thông
 
Trong lĩnh vực giáo dục, nối tiếp với chương trình thí điểm giáo dục dân số được thực hiện từ những năm đầu của thập kỷ 80, từ năm 1998, các nội dung giáo dục SKSS VTN được xác định cần ưu tiên và đưa vào lồng ghép, tích hợp trong 4 môn học: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân, Ngữ văn của chương trình giảng dạy chính khóa. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện phương thức giáo dục lồng ghép này không cao do thời lượng các môn học chính khóa đã quá tải, giáo viên thiếu kiến thức và có thái độ e ngại khi nói về các vấn đề SKSS.
 
Thực tế, giáo dục SKSS VTN lại chứa đựng rất nhiều chủ đề nhạy cảm, tế nhị, học sinh khó có thể trình bày, trao đổi một cách cụ thể trong môi trường lớp học, trước mặt thầy cô và bạn bè khác giới. Đối với chủ đề này, cần phải có một môi trường phù hợp để các em có thể tin tưởng bày tỏ, trao đổi một cách thoải mái tất cả những hiểu biết, quan điểm, khúc mắc của mình. Để đáp ứng nhu cầu đó, các nội dung giáo dục SKSS VTN đã được nghiên cứu, truyền tải tới học sinh dưới các hình thức mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng thông qua các hoạt động ngoại khóa2 (). Từ năm học 2006 – 2007, hoạt động ngoại khóa giáo dục SKSS/TD VTN chính thức được đưa vào khung chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh các trường phổ thông. Hiện nay, công tác tập huấn cho đội ngũ giáo viên về các nội dung và phương pháp giáo dục SKSS VTN thông qua hoạt động ngoại khóa đang được tiến hành tại các địa phương3 ().
 
Các hoạt động truyền thông cung cấp thông tin, tư vấn về SKSS VTN tới các đối tượng VTN&TN ngoài trường học đã được Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện với nhiều hình thức như: biên soạn các tài liệu giáo dục SKSS VTN (tờ rơi, sách, sổ tay, băng hình…); tổ chức chiến dịch truyền thông; thiết lập trang web và đường dây nóng tư vấn về các vấn đề SKSS VTN. Các mô hình can thiệp về SKSS VTN dành cho VTN&TN đã luôn được Đoàn thanh niên chú trọng phát triển: Trung tâm tư vấn thanh niên; Câu lạc bộ tiền hôn nhân và SKSS; Góc dich vụ thân thiện dành cho VTN&TN đặt trong các cơ sở của Đoàn thanh niên; Thanh niên tình nguyện thực hiện giáo dục về SKSS VTN.... Tuy nhiên, hiện nay mức độ đáp ứng của tổ chức Đoàn tại tuyến cơ sở còn không đồng đều. Các hoạt động can thiệp SKSS VTN nói trên được tổ chức rời rạc, thiếu tính đồng bộ và quy mô.
 
Việc tuyên truyền về SKSS VTN trong cộng đồng, tới các bậc cha mẹ cũng đã bắt đầu được thực hiện. Hội Phụ nữ, Hội nông dân là đã tham gia thực hiện nhiệm vụ này. Tuy nhiên, các can thiệp còn rất ít và chỉ mới ở những bước ban đầu. Thực tế, dưới góc độ chính sách và xây dựng chương trình, nội dung này hoàn toàn được coi là tiểu phần xây dựng môi trường thuận lợi cho việc tiến hành các can thiệp về SKSS VTN chứ chưa được đánh giá ở tầm chiến lược như là một yếu tố nền tảng, trực tiếp nâng cao SKSS VTN.
 
1.4. Cam kết tài chính cho thực hiện các can thiệp
 
Thách thức quan trọng đối với Chính phủ hiện nay là ưu tiên về SKSS VTN chỉ là một trong rất nhiều ưu tiên về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Mặc dù ngân sách nhà nước chi cho các hoạt động y tế, giáo dục năm sau đều cao hơn so với năm trước song thực chất còn rất eo hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Việc thực hiện các cam kết về mặt tài chính cho các can thiệp về SKSS VTN từ trước đến nay gặp nhiều khó khăn.
 
Trong ngân sách nhà nước dành cho ngành y tế, chỉ 10 tỷ VNĐ[1] (ngân sách Bộ y tế) được dành cho hoạt động chăm SKSS năm 2006. Dự án chăm sóc SKSS hiện mới được trình Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt để đưa vào chương trình mục tiêu y tế quốc gia triển khai thực hiện từ năm 2008 với một con số ngân sách khiêm tốn – 100 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ y tế: 20 tỷ, ngân sách địa phương: 80 tỷ). Tương tự, dự án y tế học đường có thể bao gồm cả nội dung chăm sóc SKSS VTN trong trường học cũng được dự toán chi 50 tỷ VNĐ/năm (ngân sách Bộ y tế: 10 tỷ, ngân sách địa phương: 40 tỷ)4. Kế hoạch tổng thể chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho VTN&TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 trong đó bao quát hết các nội dung SKSS VTN, ước tính một ngân sách khiêm tốn là 100 tỷ VNĐ (khoảng 6,3 triệu USD) cho việc triển khai thực hiện song cũng vẫn chỉ là ngân sách dự kiến huy động từ nhiều nguồn và đến nay vẫn chưa có một cam kết cụ thể nào.
 
Những năm gần đây, một số địa phương đã nhận được viện trợ để triển khai các can thiệp SKSS VTN (các tỉnh/thành phố có chương trình hỗ trợ của UNFPA hoặc RHIYA EC/UNFPA), khi kết thức chu kỳ viện trợ, việc duy trì các can thiệp có nguy cơ không thực hiện được do địa phương không huy động được ngân sách. Mặc dù lãnh đạo chính quyền của các địa phương này đã có cam kết ủng hộ mạnh mẽ nhưng không thể chắc chắn có được cam kết về tài chính5 .
 
1.5. Thực hiện điều phối, tổ chức
 
Để thực hiện Chiến lược chăm SKSS, trong đó có mục tiêu chăm sóc SKSS VTN do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Ban chỉ đạo đã được thành lập gồm Bộ Y tế, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Giáo dục – Đào tạo, Bộ LĐ-TB-XH, Uỷ ban DSGĐTE, Uỷ ban Thể dục thể thao và các tổ chức đoàn thể là Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ. Trong đó, Bộ y tế giữ vai trò chủ đạo.
 
Ngành y tế trong hoạt động chuyên môn của mình có nhiệm vụ chăm sóc SKSS cho VTN&TN nhưng trong các can thiệp đáp ứng nhu cầu SKSS VTN, không chỉ ngành y tế có thể giải quyết hết mọi vấn đề. Có những lĩnh vực, ngành y tế trực tiếp chủ trì thực hiện các can thiệp. Có những lĩnh vực ảnh hưởng đến SKSS VTN do các bộ ngành khác chủ trì, ngành y tế đề nghị, hướng dẫn về chuyên môn hoặc tham gia hỗ trợ kỹ thuật, phối hợp cùng các bộ ngành đó giải quyết (Bộ Y tế, 2006). Trong từng ngành, hoạt động điều phối được thực hiện giữa các ban/vụ/cục, các đơn vị trực thuộc để triển khai các hoạt động có liên quan đến SKSS VTN.
 
II. KHUYẾN NGHỊ CÁC BƯỚC TIẾP THEO NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU SKSS VTN&TN
 
2.1. Hiện thực hóa các chính sách, tăng cường cam kết của chính quyền
 
Với một hệ thống chính sách liên quan đến SKSS VTN tương đối toàn diện ở cấp trung ương do Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đưa ra, một câu hỏi lớn hiện nay là làm thế nào để hiện thực hóa các chính sách? Bài học kinh nghiệm từ các chương trình can thiệp đã làm tại các địa phương (từ tuyến tỉnh/thành phố đến xã/phường) cho thấy vấn đề SKSS VTN cần phải được chính quyền và cộng đồng nhận thức đầy đủ hơn nữa, mục tiêu cải thiện và nâng cao SKSS VTN cần phải được đưa vào các nghị quyết của các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cũng như các kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đây là tiền đề và cơ sở để huy động các nguồn lực (kỹ thuật, tài chính, cơ sở hạ tầng) cho việc thực hiện các can thiệp đáp ứng nhu cầu SKSS cho VTN&TN.
 
Công tác tuyên truyền vận động nhằm vào các nhà lãnh đạo chính quyền, cộng đồng để nhận được sự ủng hộ, cam kết về chính trị, nguồn lực con người, tài chính cần được tiếp tục đẩy mạnh. Việc tuyên truyền vận động được thực hiện bằng mọi hình thức, đặc biệt hiệu quả khi thông qua các hội nghị định hướng, hội thảo, diễn đàn chính sách về SKSS VTN.
 
2.2. Đa dạng và mở rộng các dịch vụ SKSS VTN&TN
 
Các dịch vụ SKSS VTN thiết yếu nên được cung cấp bao gồm: thông tin, tư vấn và dịch vụ về các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dinh dưỡng, vệ sinh kinh nguyệt, nạo thai an toàn; thông tin, giáo dục và tư vấn về HIV/AIDS, tiếp cận với các phương tiện phòng tránh như bao cao su, bơm kim tiêm sạch, tư vấn và xét nghiệm tự nguyện, chẩn đoán sớm và điều trị điều trị HIV/AIDS bao gồm cả tiếp cận thuốc ARV.
 
Kinh nghiệm có được từ việc thực hiện các can thiệp SKSS VTN ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác cho thấy các dịch vụ SKSS VTN không thể chỉ được cung cấp ở tuyến trung ương cũng như chỉ ở các cơ sở y tế công lập. Đa dạng hóa và mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ SKSS VTN, đặc biệt là các dịch vụ thân thiện là hết sức cần thiết để có thể đáp ứng ngày một tốt hơn các nhu cầu SKSS của VTN&TN. Cụ thể, cần đưa dịch vụ SKSS VTN xuống các cơ sở y tế thuộc tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu (trạm y tế xã/phường, các trung tâm y tế quận/huyện) hoặc các cơ sở trực thuộc các tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội dân sự địa phương. Cần huy động các tổ chức y tế tư nhân, tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phi chính phủ địa phương, tổ chức cộng đồng… tham gia cung cấp dịch vụ SKSS VTN có chất lượng.
 
Thông tin và các dịch vụ SKSS VTN được cung cấp qua nhiều mô hình can thiệp đa dạng và có sự lồng ghép với nhau. Các mô hình can thiệp đó có thể là: Lồng ghép giáo dục SKSS VTN với các môn học chính khóa trong nhà trường; Giáo dục SKSS VTN thông qua các hoạt động ngoại khóa; Các chương trình tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng; Trung tâm tư vấn SKSS cho VTN&TN; Góc dịch vụ thân thiện; Góc tư vấn thân thiện; Tư vấn qua điện thoại, internet; Giáo dục đồng đẳng, tuyên truyền nhóm nhỏ; Câu lạc bộ VTN&TN; Điểm vui chơi, giải trí có cung cấp dịch vụ SKSS VTN; Góc cung cấp thông tin, dịch vụ tại các điểm bưu điện, nhà văn hóa xã/phường; Các nhóm sân khấu - kịch; Lồng ghép tuyên truyền SKSS VTN trong các lễ hội truyền thống, giao lưu văn hóa, văn nghệ của đồng bào dân tộc; Nhà thuốc thân thiện…
 
2.3. Xác định các ưu tiên và can thiệp đặc thù
 
Trong điều kiện nguồn lực hạn chế của nước ta, xác định ưu tiên là một biện pháp quan trọng, cần thiết khi thực hiện các chương trình, can thiệp SKSS VTN từ trung ương xuống địa phương. Can thiệp ưu tiên hướng vào các mục tiêu ưu tiên và đối tượng ưu tiên hoặc đối tượng có nguy cơ cao. Trong mỗi mục tiêu của chương trình, các hoạt động ưu tiên cũng cần được xác định. Xác định ưu tiên được dựa trên xác định tính cấp bách của vấn đề, khả năng khả thi tức thời và yêu cầu đầu ra. Cơ sở để xác định các ưu tiên gồm có: (1) Thông tin phân tích tình hình kinh tế - xã hội của địa phương; (2) Thông tin đánh giá nhu cầu SKSS VTN; (3) Thông tin của các nghiên cứu tác nghiệp; (4) Thông tin phân tích đối tác.
 
Trong Kế hoạch tổng thể chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho VTN&TN Việt Nam, giai đoạn 2006-2010, các vấn đề ưu tiên cần được giải quyết là (1) Sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục; (2) Phòng chống lây nhiễm HIV; (3) Tai nạn thương tích; (4) Sử dụng chất gây nghiện; (5) Sức khỏe tâm thần; (6) Công bằng trong tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe cho nhóm VTN&TN có khó khăn và có hoàn cảnh đặc biệt. Các can thiệp SKSS VTN nhằm mục đích: (i) Cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng; (ii) phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; (iii) hạn chế mức tăng và tiến tới giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn trong VTN&TN.
 
Các can thiệp SKSS VTN mang tính đặc thù cao, đảm bảo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, và các đối tượng VTN&TN khác nhau. Việc triển khai các hoạt động can thiệp cần tính đến các yếu tố tuổi, giới, các đặc trưng văn hóa, kinh tế - xã hội của các nhóm đối tượng đích (nhóm 10-14 tuổi, 15-19 tuổi, 20-24 tuổi; nhóm nam, nữ; nhóm sống ở thành thị - nông thôn, đồng bằng - miền núi; nhóm yếu thế, nhóm có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm người dân tộc…).
 
2.4. Mở rộng phạm vi và vùng can thiệp
 
Khả năng mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ SKSS VTN về mặt địa lý ở nước ta cần được xem xét dựa trên trình độ phát triển kinh tế - xã hội, thực trạng cơ sở hạ tầng và mức độ cam kết về tài chính của chính quyền các địa phương. Việc mở rộng phạm vi địa lý cho các can thiệp SKSS VTN cần có chiến lược và được chia thành nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu (khoảng 5-7 năm trước mắt), các dịch vụ SKSS VTN nên được triển khai ở vào các vùng đô thị (thành phố, thị xã) và một vài vùng nông thôn phát triển. Đối với các vùng đô thị, nên đẩy mạnh xã hội hóa trong cung cấp dịch vụ. Các hỗ trợ ban đầu có thể được huy động, sau đó tính bền vững phải được đảm bảo thông qua cơ chế lấy thu bù chi. Đối với các vùng nông thôn, ngân sách bao cấp nên được tăng cường để giảm các phí dịch vụ, thu hút khách hàng VTN&TN. Giai đoạn 2, các nguồn lực hỗ trợ lúc này cần dồn vào để nhân rộng các mô hình cung cấp dịch vụ SKSS VTN cho các vùng nông thôn kém phát triển và tiến dần đến vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, xa, khó khăn.
 
Ngay trong giai đoạn đầu, các vùng có những vấn đề SKSS VTN nổi cộm hoặc các vùng công nghiệp mới ở Đông Bắc bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh) và Đông Nam bộ (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà rịa – Vũng tàu) nên được tập trung ưu tiên.
 
Việc mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ SKSS VTN cần phải tính toán đến các yếu tố: mức biến động tự nhiên dân số; mức độ tập trung dân cư; mức độ di biến động của nhóm dân số VTN&TN giữa các vùng, tỉnh/thành phố.
 
2.5. Cơ chế quản lý, điều phối và lồng ghép
 
Chương trình, can thiệp SKSS VTN cần phải sự điều phối liên ngành, với sự phối kết hợp hợp lý giữa các cơ quan chính phủ như Bộ y tế, Bộ GD-ĐT, các cơ quan thông tin đại chúng và các tổ chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ... Hoạt động điều phối liên ngành là một biện pháp xã hội hóa nhằm nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống xã hội, những thế mạnh và kinh nghiệm của các ngành trong các can thiệp SKSS VTN. Việc điều phối phải có sự phân cấp quản lý từ trung ương xuống cơ sở. Ngành y tế phải giữ vai trò điều phối chủ đạo cũng như hỗ trợ kỹ thuật cho việc triển khai thực hiện, giám sát và đánh giá.
 
Cơ chế giám sát, đánh giá cũng cần được thực hiện liên ngành. Các chỉ báo tổng hợp, bộ công cụ phục vụ cho việc giám sát và đánh giá cần được xây dựng và phát triển để đo lường mức độ tiến triển của các chương trình, can thiệp SKSS VTN được tiến hành. áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở về quyền, trong quá trình thực hiện, giám sát, đánh giá các chương trình, can thiệp SKSS VTN, cần đảm bảo sự tham gia của VTN&TN.
 
Trong mỗi ngành, để khắc phục tình trạng chồng chéo, tránh lãng phí nguồn lực, cần thực hiện việc phối hợp, lồng ghép các chương trình, can thiệp SKSS VTN với các chương trình, can thiệp có liên quan khác. Trong ngành y tế, can thiệp SKSS VTN có thể được lồng ghép trong các chương trình quốc gia về chăm sóc SKSS, làm mẹ an toàn, KHHGĐ, phòng chống HIV/AIDS. Trong ngành giáo dục, nội dung giáo dục SKSS VTN cần được tiếp tục lồng ghép trong các chương trình chính khóa, đẩy mạnh giáo dục ngoại khóa kết hợp với các nội dung khác. Các chương trình tuyên truyền, truyền thông thay đổi hành vi SKSS VTN do các cơ quan thông tin, Đoàn thanh niên…triển khai có thể được lồng ghép với các chương trình giáo dục HIV/AIDS, giáo dục kỹ năng sống, xóa đói giảm nghèo… Việc lồng ghép có thể bao gồm từ giai đoạn đầu tiên là thiết kế, dự toán ngân sách và lập kế hoạch cho đến các giai đoạn tiếp theo như triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá đầu ra.
 
2.6. Xây dựng năng lực các cấp
 
Xây dựng năng lực (quản lý, kỹ thuật) cho các đối tác ở các cấp là một khâu quan trọng, tiền đề đảm bảo cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN được thực hiện hiệu quả. Việc xây dựng năng lực đòi hỏi cả nguồn lực con người lẫn tài chính đáng kể. Trong hệ thống Chính phủ, những năng lực cần được tăng cường cho các ban, ngành, đoàn thể tuyến trung ương gồm: năng lực lập kế hoạch, điều phối, giám sát; ở cấp địa phương là năng lực thực hiện một chương trình SKSS VTN toàn diện. Các đối tác trong cộng đồng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng hiện đang rất cần được nâng cao năng lực để triển khai các can thiệp hay cung cấp các dịch vụ SKSS hiệu quả cho VTN&TN. Chính vì vậy, một đánh giá về năng lực của các đối tác tham gia thực hiện chương trình cần phải được thực hiện. Đây là bước đầu tiên trong quá trình triển khai nhân rộng các can thiệp SKSS VTN. Nó giúp xác định các nhu cầu xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật thiết yếu nhất cần được ưu tiên. Việc xây dựng năng lực được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn; phát triển các hướng dẫn, các tiêu chuẩn về dịch vụ SKSS VTN và chính trong quá trình triển khai các can thiệp SKSS VTN trong thực tế.
 
2.7. Hỗ trợ kỹ thuật và huy động tài chính
 
Hỗ trợ kỹ thuật đầy đủ và hiệu quả cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN là nhu cầu quan trọng trong điều kiện của nước ta. Cần thành lập các nhóm chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật gồm các chuyên gia thuộc lĩnh vực SKSS, y tế cộng đồng, truyền thông, khoa học xã hội, tâm lý và các chuyên gia có kinh nghiệm về SKSS VTN của các tổ chức quốc tế và trong nước. Huy động sự giúp đỡ về mặt chuyên môn, kỹ thuật của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ quốc tế.
 
Chiến lược huy động tài chính cho các chương trình, can thiệp SKSS VTN nên áp dụng nhiều giải pháp khác nhau và dựa vào nhiều nguồn khác nhau như: (1) Ngân sách nhà nước và địa phương; (2) Viện trợ quốc tế; (3) Quỹ nhân đạo; (4) Quỹ cộng đồng và bảo hiểm; (5) Đóng góp của cá nhân. Ngân sách nhà nước, địa phương sẽ là nguồn quan trọng để đảm bảo các chi phí tối thiểu, cơ bản cho việc thực hiện chương trình, song về lâu dài, đây phải là nguồn ngân sách chính chi cho việc triển khai các hoạt động. Nguồn viện trợ giúp phát triển và thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên trong từng giai đoạn. Quỹ nhân đạo (trong nước và quốc tế) giúp cho cho một số can thiệp SKSS dành cho nhóm VTN&TN yếu thế. Quỹ cộng đồng và bảo hiểm dành cho đối tượng học sinh, sinh viên trong nhà trường. Nguồn đóng góp của cá nhân dành cho các dịch vụ SKSS VTN thân thiện. Đây là những chi trả trực tiếp của VTN&TN khi nhận các dịch vụ thân thiện, song trước mắt cần được hỗ trợ một phần cho việc chi trả này bằng các dự án mục tiêu ngắn hạn.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 11/2007), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ