Gia tăng dân số đột biến sẽ làm trầm trọng thêm nạn nghèo đói và sự tụt hậu của Việt Nam
1. Năm qua Tổng cục Thống kê cũng như báo chí đã đưa tin về sự gia tăng đột biến của dân số nước ta.
Trên phạm vi cả nước, tỷ lệ tăng dân số năm 2004 là 13,2% năm 2002 lên 14,7% năm 2003 và năm 2004 là 14,4%. Dân số nước ta năm 2004 ước tính đã lên đến 82,1 triệu người chú ý, trường hợp sinh con thứ 3 gia tăng mạnh. Năm 2003 - 2004 số con thứ 3 trong cả nước là 400.000 trẻ em.
Đã có nhiều bài báo đề cập đến các nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng dân số đột biến nói trên. Ở đây chúng tôi muốn bàn đến những hậu quả của sự tăng đó đến cuộc sống các gia đình, đặc biệt là các gia đình nghèo đông con. Nó cản trở những cố gắng của nhân dân và nhà nước trong việc xoá đói giảm nghèo, làm chậm tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đẩy Việt Nam vào tình trạng tụt hậu xa hơn so với các nước trong khối ASEAN.
Dân số gia tăng nhanh có liên quan mật thiết đến các nguồn lực vật chất nuôi sống con người (lương thực, nước uống, quần áo.v.v.) sẽ bị thiếu hụt nghiêm trọng, gây khó khăn lớn cho các gia đình nghèo. Nhiều trường hợp họ không thể khắc phục nổi và bị bần cùng hoá. Nhà nước không có đủ phương tiện, vốn đầu tư để hỗ trợ kịp thời cho các gia đình. Đặc biệt sự gia tăng dân số đột biến khiến các chi phí cho y tế, giáo dục, văn hoá của Nhà nước không đáp ứng nổi. Các hộ nghèo không thể có đủ tiền chi cho việc học hành của con cái, chưa bệnh của gia đình. Từ đó dẫn đến nạn thất học, nạn bỏ học của trẻ em các lứa tuổi và tình trạng ốm đau bệnh tật của người dân kéo dài, do thiếu điều kiện để chữa bệnh.
Đông con nhiều phúc, cần có đủ con trai, con gái, về già có chỗ nương tựa. Thế nhưng trước mắt là cảnh gia đình thiếu thốn lương thực để nuôi con, phụng dưỡng cha mẹ già. Cả nhà suy dinh dưỡng vì thường xuyên ăn không đủ no, đủ chất, ốm đau và bệnh tật không được chữa trị.
Dân số gia tăng sẽ tạo ra một lực lượng lao động trẻ đông đảo. Ở một số nước châu Âu, mức sinh quá thấp, số trẻ em sinh ra không đủ thay thế số người già. Họ gặp khó khăn về nhân lực, đòi hỏi phải thuê lao động nước ngoài, hay cho người nước ngoài nhập cư để có người lao động cung cấp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên họ đòi hỏi lao động có chất lượng, có sức khỏe, có văn hoá.
Ở nước ta, với tỷ lệ sinh cao, trẻ em đến tuổi trưởng thành trở thành một lực lượng lao động dồi dào, quý giá của đất nước. Nhưng với số lượng lao động trẻ tăng rõ rệt này thì chất lượng lao động ra sao? Điều đó lại trở thành vấn đề đáng lo ngại. Khi tình trạng đói nghèo vẫn là một thách thức lớn nhiều trẻ em bị thất học và bỏ học, trí tuệ kém phát triển, cơ thể ốm yếu, lực lượng lao động trẻ dồi dào ấy có đáp ứng nổi, các nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không? Các khâu sản xuất không đòi hỏi nhiều lao động, chỉ cần một số người nắm được khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để điều hành những dây chuyền sản xuất tự động hoá, cơ khí hoá, hiện đại hoá.
Do đó số lượng lao động trẻ tăng lên nhưng chất lượng lao động kém đi lại trở thành nỗi lo chung của người dân và của nhà nước ta. Các gia đình gặp cảnh bế tắc do con cái khó kiếm việc làm và thất nghiệp. Chúng dễ rơi vào các tệ nạn xã hội. Còn nhà nước lại gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các kế hoạch kinh tế, xã hội, đồng thời phải lo cứu giúp các gia đình nghèo, tăng các chi phí y tế - giáo dục, văn hoá an ninh công cộng.
2. Chúng ta hãy điểm lại một số biện pháp các gia đình nghèo thường hay áp dụng để đối phó với nạn nghèo đói, qua tham khảo các kết quả điều tra xã hội học của nhiều dự án về xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Nghèo đói là do nhiều nguyên nhân nhưng một nguyên nhân cơ bản là đông con, số thành niên nhỏ tuổi gia đình phải nuôi dưỡng tăng quá nhanh, trong khi thu nhập thấp, không đáp ứng nổi đòi hỏi của các thành viên. Các gia đình lại gặp lúc làm ăn thất bát, bị thất nghiệp, lực lượng lao động chính (cha, mẹ, anh chị lớn.v.v) bị thiếu hụt do ốm đau, bệnh tật kéo dài, chết.v.v.
Điều đầu tiên là các gia đình đi vay nợ để có tiền mua lương thực, cũng như trang trải các nhu cầu tối thiểu khác. Vay nợ ít nhất chịu 10% lãi, có khi từ 25% đến 50%. Vay tiền nhiều phải thế chấp nhà cửa, tài sản quý, ruộng vườn.v.v. đến hạn không trả nợ được phải bán đất, bán nhà, bán tài sản có giá trị với giá rẻ để trả nợ. Tay trắng không còn nhà, còn ruộng, gia đình phải dựng lều tạm và đi làm thuê cho các hộ khác, hoặc di cư ra các thành phố, đô thị để kiếm việc làm, Họ làm không đủ ăn và cứ luẩn quẩn trong cái vòng nghèo đói.
Gia đình thiếu thốn tất yếu phải giảm mức chi tiêu, đặc biệt mức ăn hàng ngày trẻ em không đủ ăn và thiếu cái mặc.
Ăn uống thất thường dẫn đến sức khoẻ bị giảm sút nhanh chóng, bệnh tật phát sinh không đủ tiền mua thuốc. Tình trạng này đặc biệt trầm trọng đối với người già và trẻ nhỏ.
Nhiều gia đình, con mới học cấp 1, cấp 2, buộc con phải nghỉ học, không kể những trẻ nhỏ phải thất học ngay từ đầu. Họ không đủ tiền nộp học phí cho con, kể cả tiền mua sách bởi, các khoản đóng góp khác cho nhà trường.
Một số gia đình cho con đi giúp việc cho gia đình khác, được họ nuôi ăn, cha mẹ lại được nhận một số tiền công của cháu hay ở nông thôn họ trả bằng thóc giống, con giống.v.v.
Ở các thành phố, con cái các gia đình nghèo thường làm nghề nhặt rác hoặc đi ăn xin. Nhiều trẻ em từ các miền quê nghèo đói kéo ra các thành phố lang thang kiếm sống làm đủ nghề lặt vặt: đánh giầy, bán vé số, gánh vôi, vữa, chuyển gạch ở các công trình xây dựng. Một số cháu gái giúp việc các gia đình, hay làm việc phụ ở một số xưởng nhỏ.
Nhà nước, các đoàn thể mấy năm qua đã có nhiều cố gắng trong những cuộc vận động đưa trẻ về đoàn tụ với gia đình. Nhưng nếu họ tiếp tục đói nghèo, thiếu thốn, thì làm sao ngăn chặn được nạn trẻ em lang thang kiếm sống ở các đô thị?
Hiện nay 7 triệu lao động ở nông thôn không còn đất canh tác2. Nhiều gia đình không còn ruộng đất, nhà cửa nên buộc phải bỏ làng di cư ra các thành phố, đô thị kiếm việc. Họ làm các việc linh tinh, thu nhập thấp, mỗi ngày cố kiếm được 5000đ, 10.000đ/người: Nhà ở rất tạm bợ, các gia đình sống chui rúc ở gầm cầu, nhà hầm.v.v. Một số trẻ em còn bị dụ dỗ làm nghề bán ma tuý, bán thuốc phiện, rồi cuối cùng các cháu cũng sa vào cảnh nghiện ngập, bị bọn con buôn khống chế, bắt làm theo yêu cầu của chúng.
Các gia đình nhập cư không có hộ khẩu chính thức ở các thành phố đô thị chịu rất nhiều thiệt thòi. Con cái không được học tập và hưởng bảo hiểm y tế.v.v.
Ở các gia đình nghèo đói, thường phụ nữ là người vất vả nhất, lo kiếm ăn, lo nuôi con, khi thiếu ăn, thường người phụ nữ nhường khẩu phần ăn của mình cho chồng con, mặc dù làm việc rất mệt, rất đói. Đáng buồn là cảnh túng thiếu đã đẩy một số phụ nữ và trẻ em gái đi làm nghề mại dâm, bán thân xác mình để kiếm tiền. Nhưng đã không ít chị em bị nhiễm HIV và các bệnh tình dục khác (giang mai, lậu.v.v.).
Nạn bán trẻ em làm con nuôi cho người nước ngoài cũng là một phương kế sinh nhai của một số gia đình nghèo đông con. Có người không chỉ bán con một lần mà còn chủ trương đẻ thêm con để tiếp tục bán đi lấy tiền nuôi gia đình[1]3.
Cuối cùng nạn nghèo đói và thất nghiệp đã đẩy một số người lớn và trẻ em vào nghề trộm cắp, móc túi, chủ yếu ở các thành phố, đô thị, dẫn họ đến cảnh tù tội, bị bạn bè, người thân khỉnh bỉ, xa lánh.
Bức tranh tổng hợp trên đây về các biện pháp mà các gia đình nghèo, đông con phải áp dụng khi gặp cảnh túng thiếu có vẻ rất tiêu cực tuy mức độ, hình thức khác nhau, tuỳ hoàn cảnh của mỗi gia dình. Nhưng đó là một thực tế đã được nhiều cuộc điều tra xã hội học ở nước ta đề cập đến với những số liệu, bằng chứng cụ thể.
Đói nghèo do nhiều nguyên nhân, nhưng một vấn đề cơ bản chính là gia đình đã nghèo, đông con, lại tiếp tục sinh thêm nhiều con. Việc gia tăng nhân khẩu quá mức đã đẩy một số đông gia đình vốn đã nghèo vào cảnh cùng quẫn hơn, thiếu thốn liên miên, sinh hoạt tinh thần ngày càng ngu muội đi. Cuộc sống an toàn của các thành viên bị phá vỡ. Hậu quả đặc biệt nặng nề đối với phụ nữ và trẻ em, ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Hậu quả nghèo đói của các gia đình tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của xã hội ta trước mắt và những năm tới. Mật độ dân số Việt Nam hiện nay là 250 người/1km2, cao nhất Đông Dương. Cămpuchia là 70người/1km2, Lào 23người/1km2, Thái Lan 121người/1km2.64.
GDP của Thái Lan là 2500USD/người. Việt Nam có 450 USD/người. Nếu có bước tiến nhanh, chúng ta cũng phải ít nhất 10, 15 năm nữa mới đạt được GDP 2500 USD như Thái Lan hiện nay. Nhưng nếu dân số nước ta cứ tiếp tục tăng quá mức, nghèo đói càng tăng thì chúng ta ngày càng tụt hậu xa hơn mà không phải là tiến lên, đuổi kịp các nước láng giềng xung quanh. Thái Lan, Singapore, Malaysia. Hiện tượng sinh đẻ quá mức của các gia đình hiện nay đang đe doạ sự tụt hậu của đất nước!
Cả xã hội có trách nhiệm phải tính đến những của cải làm ra và những điều kiện tối thiểu để nuôi sống công dân nước mình (Một đứa trẻ sinh ra, lớn lên và trưởng thành phải mất 20 năm nuôi dưỡng). Vì vậy cả xã hội phải tham gia công tác kế hoạch hoá việc sinh đẻ của các gia đình. Các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể cần coi đây là một công tác trọng tâm, tích cực vận động các gia đình chỉ sinh một đến hai con, thông qua các biện pháp kinh tế, văn hoá, hành chính. Các cán bộ, viên chức, đảng viên phải gương mẫu trong vấn dề này. Nếu ai vi phạm phải chịu kỷ luật. Cần có thái độ xử lý nghiêm minh với những người phạm lỗi thì mới thuyết phục quần chúng nghe theo.
Công tác kế hoạch hoá gia đình hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến cuộc sống của nhân dân ta, đến bước tiến bộ của cả đất nước ta. Cần làm khẩn trương và có sự theo dõi, kiểm điểm thường xuyên ở các ngành, các cấp. Hy vọng rằng với những biện pháp tích cực và thiết thực với sự quan tâm của Nhà nước và cả cộng đồng xã hội, với sự tự giác đặc biệt giảm hẳn các trường hợp sinh con thứ 3, vì hạnh phúc bền vững của các gia đình và tương lai của dân tộc Việt Nam.
Theo GS Lê Thi
(Tạp chí DS&PT, số 2/2005, Website Tổng cục DS-KHHGĐ)