Mối quan hệ giữa di cư nông thôn-Đô thị và mức sinh ở Việt Nam

Tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy tỷ lệ dân cư ở các khu vực đô thị đã tăng lên tới 23,5% so với mức 19,4% của năm 1989. So sánh các số liệu của hai cuộc tổng điều tra dân số 1989 và 1999 cho kết quả là một phần ba mức tăng dân số ở khu vực đô thị là từ nguồn dân di cư. Trong đó, riêng đối với TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, mức tăng dân số do di cư chiếm tới 50%. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, dưới tác động to lớn của quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, dự kiến tỷ trọng dân cư đô thị ở nước ta sẽ tăng lên hơn 40% (TCTK/UNDP 2001). Do đó, qui mô và cường độ của luồng di cư nông thôn-đô thị sẽ tăng lên hơn nữa. Những tác động của quá trình di cư nông thôn-đô thị tới các quá trình dân số, cũng như các quá trình kinh tế-xã hội khác, là những vấn đề cần được chú ý trong việc hoạch định các chính sách kinh tế-xã hội ở tầm vĩ mô.

Trong giai đoạn nêu trên, khi luồng di dân nông thôn-đô thị đang tăng lên, mức sinh của nước ta đang ở trong quá trình giảm một cách ấn tượng. Số con trung bình của một phụ nữ đã giảm từ 3,8 con, năm 1989,  xuống còn 2,3 con, năm 1999. Hiện nay, theo những số liệu mới nhất do Tổng cục Thống kê công bố, số con trung bình của một phụ nữ đã giảm xuống dưới 2,1. Mặt khác, khi so sánh mức sinh giữa hai khu vực nông thôn và đô thị, theo các số liệu của hai cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất, có nhận xét là, mức sinh của tất cả các nhóm phụ nữ ở nông thôn đều cao hơn so với ở khu vực đô thị.

Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi và tổng tỷ suất sinh chia theo khu vực thành thị và nông thôn, Việt Nam, 1989-1999
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, Chuyên khảo về hôn nhân, sinh đẻ và tử vong ở Việt Nam, mức độ, xu hướng và những khác biệt, NXB Thống kê, Hà Nội 2001, trang 51.

Sự giảm mức sinh mạnh trong hơn 15 năm qua trước hết đó là thành công của chương trình dân số - KHHGĐ. Những kết quả của chương trình dân số đã góp phần quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước trong giai đoạn vừa qua. Mức sinh ở Tây Âu và Nhật Bản đã giảm trong nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chủ yếu là dưới tác động của các yếu tố phát triển xã hội. Khi đó chưa có các chương trình về KHHGĐ. Cũng trong thời kỳ đó, người ta được chứng kiến quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh chóng ở những nước này. Có thể thấy, mức độ đô thị hoá là một trong những chỉ báo phát triển của một đất nước. Di cư nông thôn-đô thị luôn gắn liền với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, do đó, qui mô và cường độ của nó cũng có thể coi là một trong những chỉ báo phát triển của xã hội. Quá trình di cư nông thôn-đô thị có tác động như thế nào đến quá trình giảm sinh ở Việt nam trong giai đoạn vừa qua là một vấn đề còn chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu về dân số và xã hội.

Trong cuốn Chuyên khảo về Di cư nội địa và Đô thị hoá ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê/UNDP xuất bản năm 2001, các nhà nghiên cứu đã bước đầu quan tâm tới mối quan hệ giữa di cư và mức sinh. Tuy nhiên, trong phân tích, các nhà nghiên cứu chưa tách biệt mối quan hệ giữa từng luồng di cư như  di cư nông thôn-nông thôn; di cư nông thôn-đô thị; di cư đô thị-nông thôn và di cư đô thị-đô thị, với mức sinh. Vì mức độ và trình độ phát triển về các mặt kinh tế-xã hội của các vùng là khác nhau, nhất là giữa nông thôn và đô thị, nên tác động của các luồng di cư khác nhau tới mức sinh là không như nhau. Theo lý thuyết về xã hội hoá và thích nghi môi trường xã hội mới, khi người di cư di chuyển đến khu vực có mức sinh tương đương hoặc cao hơn so với quê hương nơi họ ra đi, mức sinh của người di cư thường không giảm và không thấp hơn so với người không di cư nơi quê cũ của họ. Ví dụ, đối với các phụ nữ di cư từ các vùng nông thôn Tây Bắc hay Việt Bắc đến các vùng nông thôn ở Tây Nguyên, mức sinh của họ nhiều khả năng là không giảm. Luồng di cư nông thôn-nông thôn trong trường hợp này có lẽ ít tác động làm giảm mức sinh. Trái lại, khi người di cư di chuyển từ các vùng nông thôn có mức sinh cao hơn tới các khu vực đô thị có mức sinh thấp hơn, theo lý thuyết nêu trên, luồng di cư nông thôn-đô thị có thể có tác động đáng kể làm giảm mức sinh. Để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu này, chúng tôi đã thử tiến hành phân tích các số liệu của cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004. Trên cơ sở đặt vấn đề là, quá trình di cư có thể tác động tới mức sinh qua việc người phụ nữ kết hôn muộn hơn, do đó, sinh con đầu lòng muộn hơn hoặc người phụ nữ đã kết hôn trước khi di cư, đã có con hoặc chưa có con, họ phải trì hoãn việc sinh con đầu lòng hoặc sinh đứa con tiếp theo muộn hơn vì lý do phải ổn định cuộc sống ở nơi ở mới.

Một số nhà nghiên cứu và quản lý dân số vẫn có lo ngại rằng, những phụ nữ di cư, nhất là những người di cư tạm thời, do họ không đăng ký hộ khẩu ở nơi cư trú mới hoặc chỉ đăng ký tạm thời như diện KT4, nên họ không bị kiểm soát bởi chương trình KHHGĐ hay các cơ quan dân số ở cả nơi đến và nơi đi của họ, do đó, các phụ nữ di cư có thể sinh nhiều con hơn so với các phụ nữ không di cư. Tại Trung Quốc, nơi nhà nước thực hiện chính sách một con khá mạnh mẽ, cũng có những mối lo ngại tương tự, bởi vì, đất nước này hiện nay có lực lượng lao động di cư trôi nổi từ các vùng nông thôn về thành thị tới hàng trăm triệu người. Bên cạnh đó, có một lập luận khác cho rằng, động cơ chính của những người di cư là có công việc tốt hơn với thu nhập cao hơn, cho nên họ phải trì hoãn việc sinh con để đạt được mục tiêu kinh tế của bản thân.

Kết quả phân tích sơ bộ các số liệu của Tổng điều tra dân số 1999 và Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 đã cho thấy di cư nông thôn-đô thị có thể đã góp phần vào quá trình giảm sinh ở nước ta. Tuy nhiên, để có thể đánh giá đầy đủ về mức độ tác động cũng như cơ chế tác động của luồng di cư nông thôn-đô thị tới mức sinh ở Việt Nam, cần phải có những nghiên cứu phân tích sâu hơn, chi tiết hơn với việc áp dụng các mô hình toán phân tích thống kê đa biến để xác định các yếu tố có liên quan đến quá trình di cư này tác động tới mức sinh như thế nào.

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, với việc  gia nhập  Tổ chức Thương mại Thế giới WTO  và quá trình tiếp tục tăng cường hội nhập với nền kinh tế Thế giới và khu vực của nước ta, việc thu hút các nguồn vốn FDI sẽ lớn hơn nhiều, quá trình đô thị hoá và mở rộng các khu công nghiệp sẽ tiếp tục phát triển nhanh, do đó, qui mô di cư nông thôn-đô thị sẽ lớn gấp hơn nhiều lần hiện nay và loại hình di cư này sẽ trở thành chủ đạo ở Việt Nam. Việc tiến hành các nghiên cứu sâu và toàn diện về tác động của di cư nông thôn-đô thị tới mức sinh ở nước ta là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với công tác hoạch định chính sách dân số Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
 
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 1/2007), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ