Việt Nam cần lập kế hoạch cho tình trạng người di cư tăng
Các nghiên cứu về di dân do Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA) tài trợ đều chỉ ra rằng xu hướng này có khả năng tăng lên và kêu gọi các nhà hoạch định chính sách cần lập kế hoạch phát triển kinh tế và dịch vụ cho thành phố.
“Mặc dù sự phát triển của trường học, cơ sở y tế, đường xá chắc chắn mang lại lợi ích cho dân cư cả khu vực nông thôn và đô thị và cần được khuyến khích, nhưng việc phát triển này chưa chắc có thể góp phần làm giảm di cư ra thành phố”, theo nghiên cứu về Di cư trong nước và mối liên hệ với các sự kiện cuộc sống1 được công bố vào 22/12/2006.
Tác giả của nghiên cứu viết “việc sắp xếp lại cơ cấu kinh tế đô thị, làm cho nó trở nên hùng mạnh hơn và thu hút lao động nhập cư, có thể là một giải pháp”. Cũng theo tác giả, các thị xã và thị trấn có hoạt động nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo nên được lồng ghép vào kinh tế đô thị bằng cách đẩy mạnh mối liên kết nông thôn-thành thị.
Trong nghiên cứu thứ hai về di dân, Chất lượng cuộc sống của Di cư tại Việt Nam2, do UNFPA tài trợ, tác giả nhận định rằng di cư tạm thời đã trở thành một chiến lược mưu sinh quan trọng. Do vậy, các chính sách cần tạo điều kiện thuận lợi cho những người di cư tạm thời cũng như cần đáp ứng một loạt các nhu cầu của họ: từ nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh đến việc làm và chăm sóc sức khoẻ. Các nhà nghiên cứu đề xuất việc nới lỏng hệ thống đăng ký hộ Khẩu cùng những ràng buộc của nó đối với việc tiếp cận dịch vụ cơ bản, bởi đây sẽ là một bước tiến trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho người di cư.
Nghiên cứu thứ 3, Di dân và Sức khoẻ3, gợi ý: bên cạnh việc xây dựng hệ thống y tế, còn phải quan tâm tới các vấn đề nước sinh hoạt, điều kiện vệ sinh và nhà ở để đảm bảo sức khoẻ cho người di cư. Nghiên cứu còn tìm thấy những rào cản tài chính và phi tài chính gây trở ngại cho người dân di cư trong việc sử dụng các dịch vụ y tế, từ đó đề xuất các chính sách sau này cần đảm bảo rằng sẽ không có sự phân biệt đối xử trong việc khám chữa bệnh cho những người đăng ký tạm trú.
Nghiên cứu nhận thấy tình trạng sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục của người di cư rất bấp bênh, đặc biệt là đối với những phụ nữ di cư ít hiểu biết về các nguyên nhân của các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV. Nghiên cứu còn phát hiện hầu hết những người di cư trong độ tuổi 15-29 không sử dụng bao cao su. Do vậy, cần đẩy mạnh việc tuyên truyền sử dụng bao cao su ở cả quê nhà lẫn điểm đến của người di cư. Những người di cư là nam giới độc thân cần được cung cấp những thông tin về chăm sóc sức khoẻ và cách phòng tránh để giảm bớt những hành vi nguy cơ cao.
Tất cả ba nghiên cứu trên đều dựa trên cuộc Điều tra Di cư Việt Nam 2004 do Tổng cục Thống kê tiến hành. Cần nghiên cứu sâu hơn về người di cư tự do và di cư tạm thời cũng như về sự khác biệt giữa các vùng, miền trong cả nước và giữa các nhóm di cư khác nhau. Những can thiệp nhằm giúp đỡ người di cư ngày càng tăng ở Việt Nam sẽ có hiệu quả hơn nếu giải quyết được nhu cầu cụ thể của nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất.
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 1/2007), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ