Tác động của những yếu tố tâm lý đến sự gia tăng mức sinh nhanh hiện nay

Tổng cục Thống kê công bố tỷ lệ tăng  dân số của nước ta đã tăng lên đột biến từ 1,32% năm 2002 lên 1,47% năm 2003. Với tỷ lệ tăng dân số này, thì có thể tính ra tỷ lệ sinh thô năm 2003 là khoảng 2%, tức là có khoảng 1,6 triệu trẻ em được sinh ra trong năm 2003(1) và có thể cứ tiếp tục tăng như vậy năm 2004.

Các nhà quản lý chương trình dân số, gia đình và trẻ em đã nêu ra nhiều nguyên nhân liên quan đến công tác dân số-kế hoạch hoá gia đình ở các địa phương như: có sự thoả mãn với những thành tích đạt được; có sự buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số; hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số-kế hoạch hoá gia đình chưa đủ mạnh và quá tải về công việc; việc tuyên truyền, giáo dục, cung cấp dịch vụ và xây dựng chính sách, chế độ còn nhiều bất cập v.v.(1)

Việc nêu những nguyên nhân trên là đúng và đó là những nguyên nhân khách quan. Chúng tôi muốn đi sâu phân tích những nguyên nhân chủ quan của chính những cặp vợ chồng, vì sao họ cố sinh thêm con thứ 3, thứ 4 những năm gần đây. Đó là hàng loạt yếu tố tâm lý đã và đang thúc đẩy họ quyết tâm sinh thêm con, sau một thời gian cố khép mình vào việc thực hiện chỉ tiêu chỉ sinh 2 con. Những yếu tố tâm lý này không phải đột nhiên sinh ra, chúng vẫn tồn tại trong tâm thức nhiều người Việt Nam từ lâu.

Trước hết, đó là tư tưởng trọng nam khinh nữ, dẫn đến tâm lý muốn có con trai. Các gia đình đã sinh 2 con nhưng một bề toàn con gái, lâu nay không dám có con thứ 3, nay lại sinh thêm với hy vọng được con trai. Lại có gia đình đã sinh một con gái và yên tâm chỉ cần một con, nay lại theo "phong trào", bạn bè thúc đẩy, sinh con thứ 2, cũng với hy vọng có một con trai. Những trường hợp này rơi vào nhiều cán bộ, công nhân viên chức ở các thành phố, đô thị.

Thứ hai, gia đình đã có 2 con trai nhưng lại muốn có đủ trai, đủ gái cho bằng bạn bè, họ hàng, nay có dịp “thuận tiện” cũng sinh thêm con thứ 3.

Thứ ba là tâm lý thích có đông con. Đông con là nhiều của, nhiều phúc, nhiều lộc. Tâm lý đó từ truyền thống xa xưa để lại đến nay chưa được xóa bỏ trong ý thức của nhiều gia đình, đặc biệt ở nông thôn, miền núi. Hai con đối với họ là quá ít, phải có 4, 5 con mới vừa, vì còn đề phòng rủi ro!

Đông con là có nhiều sức lao động, khi sản xuất còn chưa áp dụng khoa học kỹ thuật mà chủ yếu sử dụng lao động chân tay, đặc biệt ở ngành nông nghiệp của đông đảo gia đình nông thôn. Nhiều con ăn uống tuy có tốn kém hơn nhưng ngược lại chúng giúp cha mẹ được nhiều việc trong sản xuất, nội trợ gia đình v.v... Đến nay sự phát triển kinh tế hộ chủ yếu là trông vào sức lực của cha mẹ, con cái. Ngay việc nhà nước cho vay vốn kinh doanh, nếu gia đình không có người làm, không biết làm thì chỉ mang nợ nhiều hơn.

Thứ tư là tâm lý đông con thì khi về già có nơi nương tựa, có người trông nom. Đặc biệt, nếu có đông con trai, lúc ốm đau, khi tuổi già không ở nhà đứa này thì ở nhà đứa kia v.v... Về già có người săn sóc, nuôi dưỡng là hết sức quan trọng, trong khi hiện nay đông đảo nông dân chẳng có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Ngay với công nhân viên chức, các phụ cấp của bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cũng quá ít ỏi. Vì vậy, khi gặp ốm đau, chủ yếu họ trông cậy vào gia đình, con cái. Đông con thì mỗi đứa đỡ một tay, cuộc sống người già, ốm đau, bệnh tật được bảo đảm hơn.

Thứ năm, việc gia đình cần có con trai còn liên quan tới việc cần có người nối dõi tông đường, thờ cúng ông bà, ông vải, chăm sóc phần mộ của tổ tiên. Và chính con trai là người lo tang lễ, cúng giỗ mình khi đã khuất núi. Con gái đi lấy chồng phải lo nhiệm vụ của nhà chồng, không trông cậy được vào các công việc trọng đại nói trên như con trai. Lại thêm việc có con trai, và nhiều con trai, đi họp với xóm làng, cộng đồng thì mở mày, mở mặt, tiếng nói có uy tín hơn v.v...

Như vậy, tư tưởng trọng nam khinh nữ, tâm lý muốn có con trai từ truyền thống lâu đời để lại vẫn tồn tại trong nhân dân ta, mặc dù cách mạng Việt Nam đã thành công từ năm 1945, công cuộc đổi mới bắt đầu từ 1986, nước ta đang hoà nhập vào cộng đồng quốc tế và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá, văn hoá thế giới, đặc biệt văn hoá dân chủ, bình đẳng đang vào nước ta.

Ngày nay các quan niệm thích có con trai, thích có nhiều con vẫn tồn tại trong tâm lý của các cặp vợ chồng, khiến họ luôn suy nghĩ về việc phải có con trai, và cần có nhiều con, cả trai lẫn gái. Việc tranh thủ "năm đẹp" để sinh thêm con chỉ là một cái cớ phụ thúc đẩy thêm việc sinh con thứ 3, thứ 4.

Những yếu tố tâm lý kể trên đang hiện diện trong tâm thức nhiều người Việt Nam, cả già lẫn trẻ, mặc dù đã có nhiều chiến dịch tuyên truyền vận động sinh ít con. Nhưng công tác tuyên truyền, giải thích, giáo dục chưa đủ độ sâu, chưa đi vào tháo gỡ những băn khoăn của các cặp vợ chồng, chưa giải quyết được những vấn đề tâm lý xung quanh việc họ muốn có con trai và có nhiều con, để đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần của họ, hiện tại và tương lai khi về già, lúc ốm đau.

Một số năm qua, sợ bị chính quyền địa phương đưa ra các cuộc họp của các đoàn thể quần chúng ở địa phương kiểm điểm việc sinh con thứ 3, thứ 4 v.v... Nay thấy Pháp lệnh dân số có nêu lên sự tự nguyện của người dân trong việc sinh con thì nhiều cặp vợ chồng cho mình được tự do sinh con thứ 3, thứ 4, không còn sợ bị phạt hành chính, hay dư luận xã hội, các đoàn thể lên án v.v... Ở nhiều địa phương, trong các cuộc họp nói đến việc sinh đẻ có kế hoạch và Pháp lệnh dân số người ta nhấn mạnh một chiều đến sự tự quyết định của các cặp vợ chồng, cho rằng nhà nước cho phép sinh con thứ 3, v.v...

Những chiến dịch truyền thông kế hoạch hoá gia đình ít đề cập đến những khó khăn chung của đất nước khi dân số tăng quá nhanh, kinh tế gia đình còn eo hẹp, lại chưa đi sâu phân tích những tư tưởng lạc hậu (vì nghĩ rằng người dân đã thông suốt) như tâm lý thích có con trai, thích có nhiều con để có nhiều lao động, nhiều phúc lộc, đặc biệt có con trai để nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên và là chỗ dựa khi về già v.v.

Cuộc sống ngày nay đã diễn ra khác trước. Địa vị, vai trò người phụ nữ ở nước ta đang tăng lên rõ rệt. Họ đi làm như nam giới, có thu nhập khá, có sự độc lập về kinh tế và bình đẳng với chồng khi lập gia đình. Vì vậy họ có khả năng và có quyền nuôi cha mẹ đẻ như cha mẹ chồng, có quyền lập bàn thờ họ ngoại bên cạnh bàn thờ họ nội khi cần thiết, không có điều gì cấm kỵ, không gặp sự phản đối từ phía người chồng hay họ nội. Điều này đã diễn ra bình thường trong nhiều gia đình.

Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy: những gia đình sinh toàn con gái vẫn ăn nên làm ra, cha mẹ được chăm sóc đầy đủ, chu đáo. Trong khi đó, nhiều gia đình đông con trai, nhưng đùn đẩy nhau việc nuôi cha mẹ già v.v... Đó chính là do kết quả của việc cha mẹ nuôi dạy con cái từ thuở nhỏ như thế nào và tự mình có sống gương mẫu cho con cái noi theo không.

Với tâm lý cần sinh nhiều con để có người trông cậy khi về già, thì trước đây kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, nay cuộc sống đã khá lên, gia đình có sự tích luỹ, có tiền để bồi dưỡng lúc ốm đau, già yếu. Họ có thể trông cậy nhiều vào hệ thống bệnh viện, cùng với sự phát triển các dịch vụ không mất tiền và mất tiền, thuận lợi hơn trước nhiều. Đồng thời nhà nước cần tăng cường có nhiều dịch vụ không mất tiền và rẻ tiền để việc chăm sóc người ốm, người già, người độc thân được tốt hơn; cần phát triển hệ thống bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho mọi người dân ở nông thôn và thành phố được tham gia. Đó là những biện pháp thiết thực để họ bớt lo lắng lúc gặp khó khăn, khi ốm đau, lúc về già v.v.

Tóm lại, cùng với việc tăng cường hoạt động của hệ thống tổ chức và công tác vận động kế hoạch hoá gia đình, cần chú ý hơn đến nội dung tuyên truyền vận động. Cần đi sâu giải quyết những vấn đề tâm lý như đã nêu trên, những nguyên nhân chủ quan đang thúc đẩy các cặp vợ chồng cố sinh thêm con, mặc dù chúng ta có thể tăng cường hơn nữa việc quản lý hành chính đối với các trường hợp sinh con thứ 3, thứ 4 v.v... Cần giúp họ được thông suốt về tư tưởng, được giải toả về tâm lý thì việc giữ mức sinh 2 con mới được bảo đảm vững chắc, lâu dài. Khi đã là những vấn đề tâm lý, ý thức tư tưởng thì cách giải quyết không thể áp đặt thô bạo, cần phải có những lý lẽ có tính thuyết phục, những biện pháp tiến hành tế nhị, sâu sắc mới có thể thành công.
 
Theo GS Lê Thi
(Tạp chí DS&PT, số 12/2004, Website Tổng cục DS-KHHGĐ)