Tình hình người cao tuổi ở Trung Quốc
Cuộc điều tra được triển khai tại 20 tỉnh, hơn 20 nghìn người từ 60 tuổi trở lên (năm 2000) được phỏng vấn. Mục đích của cuộc điều tra là để tìm hiểu cuộc sống của người cao tuổi về mọi phương diện bao gồm thu nhập, dịch vụ y tế, hoạt động giải trí, điều kiện sống và tham gia các hoạt động công cộng.
Vào cuối năm 2000, Trung Quốc có 93,77 triệu người từ 65 tuổi trở lên, chiếm 7,3% tổng dân số. Số người từ 60 tuổi trở lên là 130 triệu người. Dự báo năm 2020 sẽ đạt 260 triệu và đến năm 2050 là 440 triệu người, chiếm 1/4 tổng dân số. So với năm 1992, cuộc sống của người cao tuổi đã được cải thiện về mọi mặt:
1. Thu nhập tăng: So với năm 1992, thu nhập bình quân hàng năm của người cao tuổi đã tăng 3,1 lần ở thành thị và 1,7 lần ở nông thôn.
2. Điều kiện sống được nâng cao: Diện tích mặt sàn nhà ở trung bình của hộ có người cao tuổi đạt 70 m2 ở thành thị và 80 m2 ở nông thôn. 90% người cao tuổi ở cả thành thị lẫn nông thôn đều có phòng riêng. Năm 2000, so với năm 1992, việc sử dụng ga, điện thoại, tủ lạnh, hố xí bệt đã trở nên phổ biến trong nhiều gia đình.
3. Cải thiện giáo dục: Tỷ lệ mù chữ của người cao tuổi đã giảm từ 41,2% năm 1992 xuống còn 28,4% năm 2000 đối với những người sống tại thành thị và từ 74% xuống còn 57% đối với những người ở nông thôn. Tỷ lệ dân số cao tuổi có trình độ từ cấp 3 trở lên đã tăng từ 17% lên 21% đối với những người sống ở thành thị và từ 1,2% lên 1,5% ở nông thôn.
4. Các hoạt động giải trí đa dạng hơn: Bên cạnh việc xem tivi (90% ở thành thị và 79% ở nông thôn), đọc báo, tập thể dục, các hoạt động khác như chơi mạt chược, cờ tướng, đi xem phim, nghe nhạc kịch truyền thống của Trung Quốc và đi dạo trong công viên cũng rất phổ biến đối với người cao tuổi.
5. Tham gia nhiệt tình hơn vào các hoạt động công cộng: Hơn 20% người cao tuổi ở thành thị tham gia với tư cách là các tình nguyện viên để giữ gìn trật tự cộng đồng và giáo dục thế hệ trẻ...
6. Trợ giúp xã hội cho người cao tuổi được nâng cao. Gia tăng sự trợ giúp và tài trợ của Chính phủ từ các cơ quan và cá nhân đã cải thiện cuộc sống của những nhóm người gặp khó khăn như không có lương hưu, sức khoẻ kém, cô đơn, suy yếu hoặc không có con cháu.
7. Các dịch vụ cho người cao tuổi được cải thiện. Một hệ thống dịch vụ tại cộng đồng đã hình thành để hỗ trợ cuộc sống hàng ngày cho người cao tuổi. ở thành thị, 40% cộng đồng có thể cung cấp dịch vụ y tế và quản gia tại nhà, và ở nông thôn 60% có thể cung cấp dịch vụ y tế tại nhà.
8. Tình trạng kinh tế được cải thiện. Hơn 70% người cao tuổi tại thành thị và 60% ở nông thôn cho biết họ có thể tự chăm sóc bản thân. Đối với dịch vụ y tế, hơn 70% người cao tuổi ở cả thành thị lẫn nông thôn cho rằng việc đến bác sỹ thăm khám đối với họ là khá thuận tiện.
Tuy nhiên, cuộc điều tra cũng cho thấy nhiều vấn đề:
1. An sinh xã hội cần được nâng cao. Do thu nhập thấp, đa số người cao tuổi đã phải chi hết tiền của họ để giúp đỡ gia đình trước khi nghỉ hưu. Ít người có thể để dành đủ hỗ trợ cho tuổi già của họ và hệ thống an sinh xã hội hiện tại chưa thể giải quyết được vấn đề này. Sự trợ giúp tuổi già vẫn được xem như một quan tâm chính của nhiều người.
2. Phương thức hỗ trợ gia đình truyền thống đang đối mặt với những thách thức. Tại Trung Quốc ngày nay, người cao tuổi vẫn do gia đình họ giúp đỡ là chủ yếu. Ở thành thị, tỷ lệ này là hơn 30% và ở nông thôn là hơn 60%. Tuy nhiên, với việc thu nhỏ về quy mô của gia đình hiện đại thì vai trò của gia đình trong sự trợ giúp người cao tuổi đang yếu đi. Thiếu vắng hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, người cao tuổi dễ rơi vào cảnh nghèo đói nếu như con cái họ không đủ sức gánh vác trách nhiệm. Ở nông thôn, tình tình này còn nghiêm trọng hơn.
3. Các dịch vụ cho người cao tuổi cần được hoàn thiện. Mặc dù Hội người cao tuổi là một tổ chức quan trọng để phục vụ người cao tuổi nhưng nó vẫn chưa thực sự đóng vai trò đầy đủ trong việc cung cấp các dịch vụ và bảo vệ các quyền hợp pháp của người cao tuổi. Ở thành thị, chỉ 15% các cộng đồng xung quanh có một nhóm đặc biệt hoạt động bảo vệ quyền của người cao tuổi. Ở nông thôn, tỷ lệ này thấp hơn 10%.
Theo Tạp chí Dân số & Phát triển (số 5/2006), website Tổng cục Dân số & KHHGĐ