Dân số và toàn cầu hoá
Y tế công cộng và kỹ thuật tránh thai phát triển đã làm tăng tuổi thọ và hạ thấp mức sinh ở hầu hết các nơi trên thế giới. Nhưng đồng thời du lịch và di cư quốc tế đã góp phần làm tăng đại dịch HIV/AIDS toàn cầu và sự xuất hiện trở lại của các loại bệnh lây nhiễm khác.
Toàn cầu hoá có những tác động gián tiếp hơn đến tăng trưởng kinh tế đã nâng cao mức sống và phúc lợi về y tế. Nhưng ở một vài nơi, tăng trưởng kinh tế có những ảnh hưởng xấu đối với sức khoẻ, như tăng trưởng kinh tế có liên quan đến sự lan rộng của đô thị và ô nhiễm không khí nghiêm trọng.
Quy mô, tốc độ tăng và cấu trúc tuổi của dân số cũng có ảnh hưởng đến toàn cầu hoá. Biến đổi về dân số ảnh hưởng đến việc di chuyển của người dân, sản xuất và vốn đầu tư giữa các nước. Những thay đổi có lợi về cơ cấu tuổi của dân số cũng có ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế.
Bài này tóm tắt báo cáo trình bày tại Hội nghị “Dân số Đông Nam á trong bối cảnh châu á đang biến đổi”, tổ chức tại Băng cốc Thái Lan vào tháng 6/2002.
Toàn cầu hoá hồi sinh
Sau hàng thế kỷ toàn cầu hoá ngày càng tăng, giai đoạn từ năm 1914 đến 1945 có thể được diễn tả như sự ẩn dật sau các biên giới quốc gia. Hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với sự suy thoái kinh tế bị tàn phá đã bỏ mặc thị trường các thị trường quốc gia hoạt động tách biệt. Năm 1945, hệ thống tiền tệ quốc tế hoạt động trong tình trạng hỗn độn, thuế xuất nhập khẩu cao ở hầu hết các nước, và tự ý nhập cư bị hạn chế nghiêm ngặt.
Sau đó, việc hạ thấp các mức thuế đã phục hồi dần các thị trường toàn cầu thống nhất về các hàng chế tạo, nét đặc trưng vào cuối thế kỷ thứ 19. ở hầu hết các nước, xuất - nhập khẩu đều tăng theo hàm số mũ (Hình 1).
Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ với xu thế này. Việc mua bán các sản phẩm nông nghiệp vẫn được các nước công nghiệp hoá bảo hộ mạnh, và tình trạng phức tạp về hạn ngạch nhập khẩu vẫn trói buộc thương mại quốc tế về hàng dệt may.
Những hạn chế về đầu tư quốc tế - đặt ra vào thời điểm kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai - vẫn có hiệu lực ở Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và hầu hết thế giới đang phát triển trong một vài thập kỷ. Mỹ bắt đầu xoá bỏ hạn chế về di chuyển vốn trong những năm 60. Nhật Bản và châu Âu tiếp theo những năm 70, và xu thế này được đẩy nhanh vào những năm 80. Dưới áp lực của Quỹ tiền tệ quốc tế, các nước đang phát triển đã bắt đầu xoá bỏ những hạn chế này trong những năm 80 và 90.
Di cư quốc tế đã tăng đều đặn trong vòng 50 năm qua, bù đắp lại tới một chừng mực nào đó những sự chênh lệch về tăng dân số và cấu trúc tuổi trong các quốc gia. Mỹ đã chấp nhận 2,5 triệu người nhập cư trong những năm 50, 4,5 triệu người trong những năm 70 và 9,1 triệu người trong những năm 90. Mặc dù đã có những chính sách hạn chế nhập cư, số “người nước ngoài được đăng ký” ở Nhật tăng gấp hai lần trong thời kỳ 1980-2000, từ 783 nghìn lên 1,7 triệu người.
Người nhập cư có xu hướng là những lao động trẻ, đã có con hoặc lập gia đình khi họ đã định cư. Các loại thuế thu nhập từ những lao động này hỗ trợ cho các hệ thống an sinh xã hội do áp lực từ số lượng người cao tuổi nghỉ hưu tăng nhanh, điển hình ở các nền kinh tế phát triển hiện nay.
Dân số trong thời kỳ quá độ
Các nước trên thế giới đã trải qua hoặc đang trải qua một thời kỳ biến đổi dân số sâu sắc được gọi là quá độ nhân khẩu học, trước hết là tỷ lệ chết, và sau đó là tỷ lệ sinh giảm từ các mức cao xuống thấp. Trong khoảng thời gian giữa mức chết và mức sinh giảm, dân số có thể tăng rất nhanh.
Đặc điểm chung của quá độ nhân khẩu học tương đối giống nhau ở mọi nơi, tuy nhiên có sự khác biệt lớn về tốc độ và thời điểm. Ví dụ như quá độ chuyển từ mức sinh cao xuống mức sinh thấp mất gần 200 năm ở Pháp, nhưng chỉ mất 100 năm ở Mỹ.
Ở các khu vực đang phát triển trên thế giới, quá độ về mức sinh và mức chết mới xảy ra gần đây, và những biến đổi này đột ngột hơn so với phương Tây. Các biến thể về quá độ nhân khẩu học có những ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng, cơ cấu tuổi và quy mô dân số.
Một khía cạnh nổi bật về quá độ nhân khẩu học là có sự tăng nhanh và sau đó là giảm sự chênh lệch về tuổi thọ và mức lệ sinh giữa các nước đã phát triển và đang phát triển. Năm 1820, tuổi thọ của Nhật và các nước phương Tây chỉ cao hơn các khu vực còn lại của thế giới là 12 năm. 130 năm sau, tuổi thọ đã tăng lên ở khắp nơi trên thế giới, tuy nhiên khoảng chênh lệch lại mở rộng hơn - lên tới 22 năm vào năm 1950.
Vào nửa sau của thế kỷ 20, các mức tuổi thọ bắt đầu hội tụ (Hình 2a). Năm 1999, sự chênh lệch về tuổi thọ giữa các nước đã phát triển và đang phát triển chỉ là 14 năm. Các mức sinh có mô hình tương tự (Hìnhh 2b), với khoảng chênh lệch về mức sinh giữa các nước đã phát triển và đang phát triển tăng dần, sau đó đã thu hẹp lại sau một thế kỷ.
Qúa độ nhân khẩu học cũng có ảnh hưởng đến cấu trúc tuổi của dân số. Tầm quan trọng về kinh tế của hiện tượng này thể hiện qua những biến đổi về tỷ lệ phụ thuộc của dân số - dân số trẻ (0-14 tuổi) cộng với dân số già (từ 65 tuổi trở lên) chia cho dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi). Giảm tỷ lệ phụ thuộc có nghĩa là mỗi người trong độ tuổi lao động "phải nuôi ít miệng ăn hơn", tạo cơ hội để nâng cao mức sống, tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn.
Việc giảm tỷ lệ phụ thuộc của dân số do mức sinh giảm dẫn đến "dư lợi nhân khẩu học". Nguồn lao động dồi dào - nếu kết hợp với các chính sách kinh tế có cở sở vững chắc - có khả năng dẫn tới tăng trưởng kinh tế nổi bật.
Ở phương Tây, xu thế chung về tỷ lệ phụ thuộc đã giảm cho đến năm 1950, khi tỷ lệ phụ thuộc gần bằng 0,5. Điều này có nghĩa là cứ hai người trong độ tuổi lao động thì có một người phụ thuộc.
Sự bùng nổ trẻ em ở các nước phương Tây sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai dẫn tới tỷ lệ phụ thuộc tăng cao nhưng chỉ là nhất thời. Hiện nay, ở phương Tây, tỷ lệ phụ thuộc biến đổi trong phạm vi tương đối nhỏ, xấp xỉ ở mức 0,5. ở Nhật, tỷ lệ phụ thuộc năm 2000 là 0,47.
Xu thế ở các nước đang phát triển rất đáng lưu ý. Hơn một thế kỷ qua, sự giảm đột ngột về tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi và tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi, cùng với việc duy trì các mức sinh cao, đã dẫn đến sự tăng rất nhanh về tỷ lệ phụ thuộc. Kết quả là khoảng cách về tỷ lệ phụ thuộc giữa các nước đã phát triển và các nước đang phát triển đã đạt mức đỉnh cao trong những năm 70. Sau đó, tỷ suất sinh đã giảm trên toàn thế giới, và sự chênh lệch về tỷ lệ phụ thuộc đã giảm bớt.
Do phần lớn dân số chuyển sang nhóm người cao tuổi, nên các tỷ lệ phụ thuộc sẽ tăng trở lại - trước hết diễn ra ở hầu hết các nền kinh tế đã phát triển. Kết quả là tỷ lệ phụ thuộc trong 50 năm tới ở một số nước đang phát triển sẽ hạ thấp hơn ở các nước giầu có hiện nay. Hình 3 cho thấy tỷ lệ phụ thuộc ở Nhật Bản và Hàn Quốc dự báo sẽ tăng lên, còn các tỷ lệ này sẽ tiếp tục giảm ở ấn Độ, Philípin và Malaixia. Sự chuyển đổi này ở các nước được hưởng "dư lợi nhân khẩu học" có thể trở thành một nhân tố trong thành tựu kinh tế của họ.
Tác động của toàn cầu hoá đến dân số
Toàn cầu hoá có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến dân số. Sự di chuyển của người dân trên thế giới đã đẩy nhanh mức độ lây lan của bệnh tật, đáng chú ý nhất là HIV/AIDS. Mặt khác, sự mở rộng toàn cầu về y tế công cộng, y học và kỹ thuật kế hoạch hoá gia đình đã đóng một vai trò quan trọng đối với tăng tuổi thọ và giảm sinh trên toàn thế giới.
Toàn cầu hoá có ảnh hưởng gián tiếp đến tốc độ phát triển, kích thích tăng trưởng kinh tế nhanh hơn ở một số nước. Tốc độ phát triển lại có ảnh hưởng đến các cơ hội về việc làm, thu nhập, dinh dưỡng, và trình độ văn hoá, đô thị hoá, vị thế của phụ nữ và các điều kiện kinh tế và xã hội khác tác động đến mức sinh, mức chết và di cư.
Nói chung, các nước đã tự do hoá thương mại trong các thập kỷ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao hơn. Trong vòng 40 năm (1960 – 2000), kinh tế tương đối đóng của Nhật tăng hàng năm ở mức 4,9%. Cũng trong 40 năm này, tốc độ tăng kinh tế trung bình hàng năm của Malaixia là 6,5% và Hàn Quốc là 7,4%.
Sự phát triển nhanh về công nghệ đã dẫn tới sự hội tụ toàn cầu về các mức sinh và chết, đặc biệt ở những nơi kết hợp với tăng trưởng kinh tế nhanh. Nhật bản và Singapo hiện đang giữ vị trí nhất và nhì trên thế giới về tuổi thọ, còn Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kong và Singapo đều có tỷ suất sinh thấp hơn Mỹ. Các nước châu á này có được thành công là do nỗ lực hoà nhập vào kinh tế toàn cầu.
Một hiện tượng thậm chí còn phổ biến hơn là giảm bớt sự liên kết giữa nhân khẩu học và phát triển. Các nước tương đối nghèo như ấn Độ và Philípin đã thành công đáng kể trong vấn đề tăng tuổi thọ và hạ thấp tỷ suất sinh. Khoảng cách nhân khẩu học giữa nước giầu và nước nghèo đã thu hẹp nhanh hơn nhiều so với khoảng cách về kinh tế.
Điều gì giải thích cho hiện tượng này? Một nhân tố quan trọng là toàn cầu hoá thành công về chăm sóc sức khoẻ, phần lớn do sự tăng nhanh các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức liên chính phủ giành hết sức cho cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường và nhân khẩu học ở các nước đang phát triển.
Trước năm 1950 hoạt động để cải thiện y tế ở các nước đang phát triển thuộc phạm của các nhà truyền giáo, một vài tổ chức tư nhân, và những nỗ lực ban đầu của Hội Quốc liên. Những nỗ lực lớn của các chính phủ, các tổ chức đa quốc gia, và các nhóm tổ chức phi lợi nhuận tư nhân chỉ bắt đầu trở thành một lực lượng quan trọng vào nửa cuối thế kỷ.
Mặc dù hỗ trợ phát triển nói chung đã giảm từ những năm 70, trợ giúp từ các nước tài trợ vẫn giữ vị trí quan trọng ở nhiều nước đang phát triển. Chẳng hạn như năm 2000, trợ giúp của các nhà tài trợ tài trợ chiếm khoảng 20% tổng số chi phí về chăm sóc sức khoẻ ở châu Phi cận Sahara (trừ Nam Phi).
Hoàn thành chu trình: tác động của dân số tới toàn cầu hoá
Về mặt lịch sử, tăng dân số đã tạo động lực cho khảo sát toàn cầu, di cư quốc tế và xâm chiếm thuộc địa. Trong những năm gần đây, động thái dân số đã gây ảnh hưởng đến toàn cầu hoá thông qua những tác động vào sự phân bố vốn và lao động. Những khác biệt giữa giữa cung về lao động và vốn của mỗi nước có ảnh hưởng quan trọng đến thương mại, đầu tư nước ngoài và di cư quốc tế.
Những nước có cung hạn chế một trong những nguồn tài nguyên kinh tế ấy sẽ được lợi do "hợp tác" với các nước có nguồn cung dồi dào. Bản thân các nguồn này hoặc có thể được trao đổi thông qua xuất khẩu lao động (di cư) hoặc vốn (đầu tư nước ngoài), hoặc các nước có thể chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà họ có lợi thế so sánh và tham gia vào thương mại.
Các nước trong giai đoạn đầu của quá độ nhân khẩu học thường có xu hướng xuất khẩu lao động, nhập khẩu vốn và trở thành các nước sản xuất các loại hàng hoá và dịch vụ thu hút nhiều lao động. Các nước ở giai đoạn cuối của quá độ nhân khẩu học có xu hướng nhập khẩu lao động, xuất khẩu vốn và là các nước sản xuất các loại hàng hoá và dịch vụ đòi hỏi nhiều kỹ năng và vốn.
Do vậy Hồng Kông và Singapo, trong số các nước đầu tiên đạt mức sinh thấp, đã trở thành các nước chủ yếu nhập khẩu lao động. Philíppin, ấn Độ, hai nước ở giai đoạn đầu của quá độ mức sinh, là những nước dẫn đầu về xuất khẩu lao động.
Dân số trong độ tuổi lao động ở nhiều nước đang phát triển sẽ tiếp tục tăng trong một vài thập kỷ tới, đồng thời già hoá dân số sẽ làm tăng tỷ lệ phụ thuộc ở Nhật Bản, Châu Âu, và tới một mức độ nào đó ở Mỹ. Trước những xu thế nhân khẩu học này, Châu á và các khu vực đang phát triển khác sẽ có thể tăng phần đóng góp của họ trong sản xuất các sản phẩm chế tạo toàn cầu. Tỷ lệ phụ thuộc thấp hơn ở các nước này sẽ tạo cơ hội để mở rộng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế nhanh.
Những liên hệ về chính sách
Trong hơn 50 năm qua, trợ giúp từ các nhà tài trợ quốc tế đã có tính chất quyết định trong việc thúc đẩy quá độ nhân khẩu học thông qua việc phổ biến toàn cầu về kỹ thuật y tế hiện đại và kế hoạch hoá gia đình. ở một số nước châu á, những nỗ lực này đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy. Trong phạm vi rộng hơn, trợ giúp quốc tế đã có thành công đáng kể trong việc giảm khoảng cách về mức sinh và tuổi thọ giữa các nước giầu và nước nghèo .
Tuy nhiên, quá độ nhân khẩu học trên toàn cầu chưa kết thúc. Nhiều nước châu á mới chỉ bắt đầu nhận thấy tăng lên đáng kể về tuổi thọ và giảm tỷ suất sinh. ở những nước châu Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng của HIV/AIDS, tuổi thọ thực tế đang giảm. Hiện nay không phải là lúc giảm trợ giúp quốc tế cho các chương trình dân số và sức khoẻ sinh sản, các chương trình đã chứng tỏ thành công một cách kỳ diệu.
Ngoài sự trợ giúp từ các nhà tài trợ quốc tế, việc nâng cao hơn nữa về tuổi thọ và giảm mức sinh sẽ đòi hỏi có một môi trường chính sách hỗ trợ ở cấp địa phương. Các nước đang phát triển phải tiếp tục tạo lập và duy trì các thiết chế để cải thiện y tế công hiện đại và kế hoạch hoá gia đình cũng đòi hỏi lập kế hoạch phát triển kinh tế bền vững và quản trị tốt để đảm bảo rằng những cải thiện về y tế và mức sinh dẫn đến thành công trên thương trường toàn cầu.
Theo Nguyễn Thái Hà, Dịch từ Asian-Pacific Population & Policy East-West Center, January 2003, No. 64
Tạp chí Dân số & Phát triển, website Tổng cục Dân số & KHHGĐ