Một số nét về đô thị hóa ở Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Chính vì thế, việc nghiên cứu sự phát triển dân số đô thị ở Việt Nam từ 1954-1975 giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về quá trình phát triển dân số đô thị Việt Nam trong giai đoạn này. Theo số liệu thống kê từ năm 1960 đến trước 1975, dân số phân theo thành thị nông thôn như sau:
Bảng 1: Dân số Việt Nam phân theo thành thị nông thôn qua một số năm
|
|
|
Nguồn: Trần Hoàng Kim "Kinh tế Việt Nam - Chặng đường 1945-1995 và triển vọng đến năm 2020". Nhà xuất bản thống kê, 1996. |
Nhìn chung ở Việt Nam, giai đoạn 1965-1975 là giai đoạn đô thị hóa nhanh. Tốc độ đô thị hóa trong giai đoạn này nhanh là do năm 1954 miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, các đô thị bắt đầu được xây dựng nhằm phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đô thị hóa ở miền Bắc
Ở miền Bắc, đô thị hóa là quá trình hình thành những đô thị mới tạo cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Nhịp độ phát triển bình quân của thành thị giai đoạn 1955-1975 cao hơn gấp 3,1 lần so với giai đoạn 1931-1955. Tuy nhiên, nếu so sánh nhịp độ đô thị hóa của Việt Nam với các nước đang phát triển trong khu vực Đông Nam á thì quá trình đô thị hóa của đất nước ta vấn thuộc vào loại chậm. Đó là do kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này chưa phát triển, kỹ thuật canh tác ở nông thôn còn rất thô sơ, đang cần nhiều lao động.
Còn ở các thành phố, thị trấn, quá trình công nghiệp hóa diễn ra rất chậm chạp, chưa có bước phát triển mang tính đột biến. Tuy nhiên, đô thị hóa diễn ra trong hoàn cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn sinh ra nhiều vấn đề nan giải cần giải quyết đó là vấn đề việc làm và nhà ở. Mặc dù quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh nhưng bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa diễn ra lại quá chậm trong khi hàng năm, có hàng triệu người bước vào độ tuổi lao động cần có công ăn việc làm. Số lượng người không có việc làm tại các thành phố ngày càng tăng. Vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho số người chưa có việc làm cũng như lao động tưang thêm hàng năm rất khó khăn trong nhiều điều kiện nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ.
Dân số đô thị ngày càng tăng và có sự tăng đột biến kể từ 1955 trở đi, năm 1960 tăng hơn 5% so với năm 1955. Vì sao trong giai đoạn này mặc dù có chiến tranh nhưng tốc độ đô thị hóa lại cao như vậy?
Sau năm 1954, hòa bình lập lại, số dân lánh nạn ở các vùng nông thôn quy trở về thành phố làm cho tỷ lệ phát triển dân số đô thị miền Bắc tăng cao. Năm đạt tốc độ đô thị hóa cao nhất là 1960 (129,7%). Tuy nhiên, những năm về sau, mặc dù dân số thành thị vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng dân số thành thị miền Bắc lại giảm dần. Tỷ lệ dân số thành thị giảm đi rõ rệt vào những năm 1965-1970 do chiến tranh phá hoại của Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Sang thời kỳ 1970-1974, tỷ lệ dân số thành thị đã trở lại mức tăng bình thường.
Bảng 2: Tỷ lệ và tốc độ tăng dân số thành thị miền Bắc 1955-1974
Đơn vị: %
Theo cuộc điều tra dân số năm 1974 ở miền Bắc, có 2.590.537 người sống tại các đô thị, chiếm 11,49% dân số miền Bắc. Một số tỉnh có dân thành thị ở mức tương đối cao như thành phố Hà Nội (55,89%); Quảng Ninh (32,68%); Hải Phòng (30,05%); Bắc Thái (17,66%); Lai Châu (16,37%). Các tỉnh còn lại đều dưới 10% trong đó thấp nhất là Thái Bình chỉ có 3,14%. Việc mở rộng và phát triển một số khu công nghiệp đóng vai trò quan trọng làm tăng dân số đô thị ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc như khu gang thép Thái Nguyên, mỏ than Quảnh Ninh, khu mỏ Apatít Lào Cai…
Đô thị hóa ở miền Nam
Ở miền Nam, giai đoạn trước 1975, mặc dù đang xảy ra chiến tranh nhưng tốc độ đô thị hóa vẫn ở mức cao
Quá trình đô thị hóa ở miền Nam bắt đầu có sự tăng đột biến từ những năm 1965-1966. Số dân lánh nạn vào các thành phố do chiến tranh ngày càng tăng. Năm 1971, dân số thành thị đã chiếm 38% và đạt đỉnh cao vào năm 1974 là 43%. Cũng giống như miền Bắc, dân số thành thị có tăng, nhưng với tốc độ giảm dần. Tốc độ tăng dân số thành thị ngày càng giảm và mặc dù năm 1974 là năm có số dân thành thị đạt mức cao nhất nhưng tốc độ tăng lại thấp nhất. Tuy nhiên, mặc dù tốc độ tăng dân số đô thị của miền Nam ngày càng giảm nhưng so với miền Bắc thì tốc độ tăng dân số đô thị của miền Nam vấn cao hơn.
Để phục vụ cho chiến tranh, Chính quyền Sài Gòn cũ đã áp dụng chính sách dồn dân dẫn đến "đô thị hóa cưỡng bức" trong thời kỳ 1965-1969. Hậu quả đã khiến cho khoảng 12 triệu dân trong tổng số 20 triệu dân ở miền Nam phải rời bỏ quê hương sống bám vào các đô thị. Trong chiến tranh nhu cầu bảo vệ các khu vực hành chính, các căn cứ quân sự đã tạo nên luồng di dân cưỡng bức từ nông thôn vào các đô thị. Mặt khác, sự việc trợ của Mỹ đã tạo nên nhiều nhân khẩu sống bám vào các đô thị để hưởng nguồn viện trọ, đồng thời cũng làm tăng số lượng người làm các dịch vụ cho quân đội.
Bảng 3: Tỷ lệ dân thành thị ở miền Nam 1959-1974
Bảng 4: Tỷ lệ dân số thành thị tại các vùng miền Nam giai đoạn 1960-1974
|
|
|
Nguồn: Hội nghị khoa học về Dân số, Trung tâm nghiên cứu về dân số và nguồn lao động, Bộ Lao động thương binh xã hội 1988. |
Trong giai đoạn 1957-1974, tỷ lệ dân số các đô thị vùng Nam bộ và Nam Trung bộ có sự tăng giảm không đồng đều. Trong giai đoạn 1957-1963, tỷ lệ dân số đô thị của cả hai vùng Nam bộ và Trung bộ đều giảm và giảm xuống mức thấp nhất trong cả giai đoạn. Kể từ năm 1963 trở đi, tỷ lệ dân số đô thị của hai vùng tiếp tục tăng trở lại với tốc độ ngày càng cao và đều đạt đỉnh cao vào năm 1974. Dân cư chủ yếu sống tập trung vào các đô thị lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Biên Hòa.
Ngoài ra, dân cư còn tập trung vào các thành phố có quy mô dân số từ 100 ngàn người đến 300 ngàn người hoặc tại các tỉnh lị, thị trấn với quy mô từ 20 đến 100 ngàn dân. Riêng đối với Tây Nguyên có sự tăng bất thường về tỷ lệ dân số đô thị, có 3 lần tăng và 3 lần giảm đều nhau. Bắt đầu từ năm 1963, dân số các vùng miền Nam bắt đầu tăng trở lại và đều đạt đỉnh cào vào năm 1974. Đó cũng là xu hướng chung của dân số đô thị hai miền Nam, Bắc giai đoạn 1954-1975.
Theo Nguyễn Trung Kiên
(Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Phát triển, Trung tâm KHXH và NVQG)
(Tạp chí Dân số&Phát triển, số 6/2003, Website Tổng cục DS-KHHGĐ)