Dự báo dân số VN 2049: Cứ 100 trẻ em thì có 141 người già

Thông tin trên được đưa ra tại cuộc họp báo công bố các ấn phẩm Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, do Tổng cục Thống kê phối hợp Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tổ chức tại Hà Nội.

Theo dự báo dân số 2009 - 2049 của Tổng cục Thống kê, với phương án mức sinh trung bình, dân số Việt Nam sẽ đạt 95,3 triệu người vào năm 2019;102,7 triệu người vào năm 2029 và 108,7 triệu người vào năm 2049.

Cũng theo kết quả Tổng điều tra, Việt Nam đã bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” có nghĩa là thời kỳ mà tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi giảm xuống dưới 30% và tỷ trọng người già từ 65 tuổi trở lên còn ở mức dưới 15% trong Tổng dân số.

Thời kỳ này bắt đầu vào khoảng năm 2007 và theo dự báo thì sẽ kết thúc vào năm 2041. Rõ ràng đây là một lợi thế rất lớn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nếu tận dụng được tính ưu việt về lực lượng lao động của thời kỳ này trong vài thập kỷ tới.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng bắt đầu bước vào thời kỳ già hoá dân số. Chỉ số già hóa được tính bằng số người từ 60 tuổi trở lên trên 100 trẻ em dưới 15 tuổi - đã tăng từ 16,6 vào năm 1979 lên 35,5 vào năm 2009. Theo dự báo, chỉ số này sẽ tăng nhanh hơn trong vài thập kỷ tới và sẽ lên đến khoảng 100 khi mà cứ một trẻ em thì có một người già vào khoảng năm 2035, và vào năm 2049 chỉ số này sẽ là 141 tức là cứ 100 trẻ em thì có 141 người già.

Như vậy, cùng với cơ hội cơ cấu dân số vàng, Việt Nam cũng cần có những ứng phó với già hóa dân số để đảm bảo an sinh xã hội và chăm sóc y tế cho người già, đặc biệt người già trong nhóm hộ nghèo, người già tàn tật ở các vùng nông thôn.   

Vào năm 2009, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam là 97,6 nam/100 nữ. Trong khi tỷ số giới tính trong nhóm dân số cao tuổi (60 tuổi trở lên) khá thấp (67,8) do mức tử vong của nam cao hơn và do hậu quả của các cuộc chiến tranh đã qua. Tỷ số giới tính của dân số trẻ em dưới 15 tuổi khá cao (106,9). Số liệu cho thấy có hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh (nhiều bé trai hơn bé gái) và sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội.

Cũng tại buổi công bố, kết quả phân tích về giáo dục cũng là một vấn đề đáng quan tâm. Tỷ lệ biết đọc, biết viết của dân số từ 15 trở lên là 93,5% (tăng 3,2% so với năm 1999. Sự khác biệt giữa nam và nữ về tỷ lệ biết đọc, biết viết có xu hướng giảm mạnh - từ 10% vào năm 1989 xuống còn 4,4% vào năm 2009. Những con số này cho thấy sự tiến bộ đáng kể trong việc đạt được Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về tăng cường bình đẳng giới.

Tuy vậy, tỷ lệ biết đọc, biết viết của một số dân tộc như Thái, Khme, và Mông vẫn còn tương đối thấp so với mức trung bình của cả nước. Tỷ lệ dân số 5 - 18 tuổi hiện không đi học của một số tỉnh còn cao như: Bình Dương (30,8%), Bạc Liêu (26,2%), An Giang (25,9%) và Sóc Trăng (25,8%), đang là thách thức trong vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực của nước ta.

Ông Bruce Campbell - Quyền Điều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam - nhấn mạnh: “Chất lượng giáo dục ngày càng trở thành một vấn đề hết sức quan trọng trong vài thập niên tới, đặc biệt trong việc duy trì tính bền vững của tăng trưởng kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, đầu tư cho giáo dục và cải thiện các tiêu chuẩn giáo dục là điều hết sức cần thiết”.

Kết quả phân tích cũng cho thấy trong giai đoạn 2004-2009 có 6,6 triệu người di cư trong và ngoài tỉnh ở Việt Nam, đa số người di cư là thanh niên, trong đó nữ di cư tăng đáng kể. Di cư trong nước là động lực cho phát triển, nhưng cũng là một thách thức cho nước ta trong những thập kỷ gần đây. Di cư từ nông thôn ra thành thị - hình thái di cư chính ở Việt Nam - đang tạo nhiều áp lực đối với vấn đề cơ sở hạ tầng đô thị và nhu cầu các dịch vụ xã hội hiện nay và tương lai.

Kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 sẽ đóng một vai trò quan trọng trong công tác lập kế hoạch và xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, kết quả này cũng là cơ sở để đánh giá tiến độ đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ giữa thành thị và nông thôn, các vùng địa lý và cho tất cả các đối tượng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Hà Anh